Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng:Mạch đập văn hóa trong hạt lúa quê nhà…
Đầu tháng 7/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) đã trao giải Cuộc vận động sáng tác "Lúa gạo Việt - Nguồn cội và tương lai". Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng (phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai) đã đoạt giải Nhì với chùm thơ: Câu thần chú tình yêu, Những thế võ trong hạt lúa Tây Sơn, Mắt Chiêm Thành.
Từ những cánh đồng lúa quê nhà, nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng đã "lặn" vào những lớp trầm tích của lịch sử, văn hóa và ký ức xứ sở, và đã thổi một làn hương mới cho hạt lúa, tư ngôn ngữ thi ca.
Nông thôn Việt đã có cuộc trò chuyện với anh về chuyện lúa và thơ, để một lần nữa minh định cho cái gọi là "căn cước văn hóa" của đất Việt.

Lúa gạo gọi tên lịch sử
PV: Thưa anh, trong chùm thơ vừa đạt giải Nhì của mình, hạt gạo dường như trở thành điểm gặp gỡ của đất đai, con người, lịch sử và văn hóa. Từ đâu anh có ý tưởng đưa những hình tượng như Tây Sơn, Chiêm Thành… vào mạch thơ về lúa gạo?
- Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng: Ở xứ sở chúng ta, mỗi bóng núi mom sông đâu cũng là di chỉ. Nên hầu hết thời gian của tôi dành cho việc hòa mình với thiên nhiên, trong đời sống dân chúng, rồi đọc và viết.
Trong sáng tác và nghiên cứu của tôi, xem ra cũng đa dạng. Đôi khi là khu vườn một võ sư, mái giáo đường, hiên tự viện, bãi biển sóng dội lên ghềnh đá. Nhiều nhất là các đỉnh núi rợp bóng cây. Và tôi nhận ra những mạch đập văn hóa vừa rõ ràng vừa bí ẩn, ám ảnh từng hơi thở ngòi bút của mình.
Mỗi vùng đất của xứ sở này, trong tôi, như những bức tranh vừa có cái hùng vĩ, mạnh mẽ của đất võ, lại vừa có cái uyển chuyển, thâm trầm của trời văn.
Ngay cả những thứ bình dị nhất như hạt lúa, củ khoai, tôi cũng tìm được cách đối thoại kiểu khác. Đó là cái nhìn biểu tượng sự can trường và nhu thuận của tạo vật, nghe hơi hướng cốt cách của một chiến binh.
Hạt lúa ở xứ sở văn hóa Champa, văn hóa Tây Sơn đồng hành cùng lịch sử dân tộc. Tất cả đã lóe sáng trong cấu tứ thơ tôi, bằng cách chứa đựng những thế võ hộ quốc an dân.
Trái ngược với vẻ ngoài sắc lạnh của gươm đao, tính chất “trời văn” chính là phần chìm. Nó mở chiều kích khác từ nội hàm thiên tài Quang Trung, bước vào ngôn ngữ thơ ca.
Thơ ở thời nào cũng vậy, tìm ra được cái tứ mới mẻ và hòa quyện cảm xúc ngôn ngữ của mình trong một kết cấu đặc thù mà người ta gọi là “tứ”. Vậy là những dòng thơ tuôn chảy.
Lẽ vậy, trong bài Những thế võ trong hạt lúa Tây Sơn, tôi viết những câu: “Lúa là ngôn ngữ của cánh đồng trước tác sấm truyền/ Lấy thế võ làm lời đề tựa/ Lúa từng cuộn trào theo nhạc võ/ Trước mười hai mặt trống thông làu/... Số phận kiếm ngọc ấn vàng/ Chìm nổi theo bát cơm đầy vơi nơi thôn cùng xóm vắng”.
Hạt lúa là một vương quyền
PV: Với người Việt, lúa gạo không chỉ như một sản vật nông nghiệp, mà còn như một biểu tượng văn hóa và căn cước dân tộc?
- Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng: Khi làm thơ, tôi nhìn rơm rạ, hạt lúa không bằng con mắt của kẻ tiêu dùng, mà bằng tâm thế người chiêm nghiệm.
Vạn vật đều có linh hồn, có đạo hạnh riêng. Và tôi lắng lòng nghe biểu hiện đời sống di sản trong một tâm thế tự tại, xem bình đẳng giữa vương quyền và mầm lúa. Ở xứ sở này, trong tâm thức văn hóa lịch sử, hạt lúa làm thức tỉnh ngòi bút nhiều điều.
Chúng ta hãy hình dung một đường bay diệu vợi của Chàng Lía, một đường quyền ánh kiếm trứ danh, một điệu hát nam hát khách xao lòng thiên cổ… Tất cả đều hàm ẩn công sức nâng niu của hạt lúa quê nhà trong đó.
Bằng sự bắt gặp và đối thoại, tôi nghe hạt lúa bình dị của quê hương cất tiếng. Sức sống của tinh thần văn hóa xứ sở, được biểu tượng hóa qua kết tinh và lan tỏa trong hạt gạo. Nó trao truyền bao đời con người, từ những khúc quanh bi tráng của lịch sử đến giờ.
Thơ gồng gánh tần số phát sóng về cuộc luân hoán ấy từ giao diện, cấu hình lịch sử văn hóa. “Định cư thế kỷ đèo truông/ Thở từng nghi lễ vui buồn gia tiên/ Chàm Kinh từ độ trao truyền/ Rưng rưng ruộng tổ thẩm quyền mạ xanh// Đây huyền ảo mắt Chiêm Thành/ Rũ son gạt phấn để dành mà thơm/ Khúc cung đình của rạ rơm/ Bao nhiêu vũ nữ xòe ôm hoàng triều” (Mắt Chiêm thành).
Văn hóa xứ sở "đóng mộc" tâm cảm
PV: Vậy đâu là những trải nghiệm, ký ức hoặc cuộc gặp gỡ đã trở thành "hạt mầm" để những câu thơ ấy hình thành và hoàn thiện?
- Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng: “Làm văn trên đất võ”, “đất võ trời văn” là những mệnh đề trong thân phận người cầm bút của tôi. Điều này tôi có dịp chia sẻ trên diễn đàn văn giới, nhân dịp dự Đại hội Nhà văn Việt Nam vào cuối thế kỷ XX.
Ở xứ sở này, đặc thù của non sông và khí hậu, vị trí địa lý và hành trạng lịch sử, sự phân hóa và hòa giải trong giao lưu và tiếp biến có phần bạo liệt lẫn khiêm ái, rất riêng.
Nó tạo ra những nghịch lý trong nhu thuận, quyến rũ tôi đi tìm cái hiện đại của cổ điển, sự phong ba của tĩnh lặng. Thậm chí cả vẻ hoàng tộc kiêu sa chốn bàu ruộng thôn trang, đến nét bình dân lam lũ của nơi màn thêu trướng vóc…
Tôi đã đắm chìm trong tình cảm thế giới các võ sư, của bà con các dòng tộc, làng xóm trứ danh của võ cổ truyền Bình Định. Họ đã đánh thức sự cộng hưởng đặc thù của văn hóa xứ sở, rót vào cảm xúc, cấu tứ các bài thơ về hạt lúa của tôi.
Thơ ca là "cầu tàng hình" nâng mùi hương ký ức văn hóa
PV: Trong bối cảnh đời sống hiện đại ngày càng thay đổi, theo anh, sứ thơ ca đứng ở đâu, làm gì để có thể góp phần nâng tầm giá trị của hạt gạo Việt, đồng ruộng và người nông dân?
- Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng: Tôi chỉ là gã lữ hành trên con đường chữ nghĩa, với một tình yêu ngây thơ và bền bỉ từ thuở thơ ấu đến giờ.
Tôi nhận thấy rằng, để nâng tầm giá trị hạt lúa, du khách đến xứ sở này phải được thưởng ngoạn dòng lịch sử văn hóa. Nó đẫm tràn qua phong cách ẩm thực từ lúa gạo Bình Định. Nâng tầm nông sản bằng tâm thức văn hóa - lịch sử, biến mỗi hạt cơm, miếng bánh thành một "di sản sống" chạm vào tâm cảm du khách.
Giá trị của hạt gạo nếu chỉ tính bằng cân, bằng ký thì mãi mãi chỉ là nông sản thô. Nhưng khi thơ ca định vị nó bằng văn hóa, hạt gạo Bình Định sẽ trở thành một đại sứ du lịch.
Du khách đến Bình Định không phải để "ăn cho no", mà là để "thưởng ngoạn lịch sử". Để thấy mỗi hạt cơm đều chở che một phần hồn cốt của tiền nhân.
Ví dụ, hạt lúa Cà Đung hay các loại lúa rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Sơn thượng đạo và hạ đạo chẳng hạn, khi được đặt cạnh những ngọn tháp Chàm rêu phong (như tháp Bánh Ít, tháp Đôi, tháp Cánh Tiên, tháp Dương Long, tháp Thủ Thiện…), không còn là một món ăn sinh học thuần túy.
Khi ăn hạt cơm lúa rẫy dẻo thơm, bùi bùi dưới bóng tháp cổ, sẽ hướng du khách nghe thấy tiếng vọng của ngàn năm trước. Ăn bánh hỏi, bánh xèo, uống rượu Bàu Đá hay các loại rượu bản địa Tây Sơn trong không gian văn hóa Tây Sơn, trên nền thành cổ Đồ Bàn - Hoàng Đế, du khách sẽ cảm nhận được sợi bánh ấy, những giọt nồng nàn ấy đã từng nuôi dưỡng và thăng hoa những đoàn nghĩa quân áo vải.
Thơ ca trong hàng trạng du lịch, sẽ nâng tầm món ăn dân dã này thành món ăn của những trang tuấn kiệt. Nơi mỗi lần chạm vào hương vị của nó, là một lần chạm vào lịch sử oai hùng.
Thơ ca lúc này sẽ đóng vai trò là "chiếc cầu tàng hình", biến hương thơm của lúa rẫy thành mùi hương của ký ức lịch sử văn hóa.
* Xin cám ơn anh về cuộc trò chuyện này.
