Người 'chơi ngông' để giữ hồn đồng bằng
Cuối năm 2025, trang Facebook của ông Lê Quốc Việt (Tư Việt, Tư Lúa Mùa), giới thiệu sự kiện ra mắt cuốn sách “Thương lắm lúa mùa ơi!” và tái bản quyển “Đời sống lúa mùa quê tôi” của Nhà xuất bản Phụ Nữ, đã hút hàng trăm lời chúc mừng, chia vui cùng ông. Có lẽ với ông Tư Việt, niềm vui đó như hạt gạo mùa đẫm phù sa châu thổ, và cả nỗi đau đáu cho hạt lúa không bị dứt mùa. Dứt là mất. Mất hết. Vì đó là gương mặt đồng bằng. Nên ông… chơi ngông tới bến, để giữ!
.jpg)
Ông Tư Việt quê gốc Kiên Giang, vùng đất ngọt, nổi tiếng cùng cây lúa. Hồi nhỏ, cũng như bao đứa con nhà nông khác, tuổi thơ ông gắn liền với ruộng đồng, với mùa gặt, mùa mưa, mùa nắng. Lớn lên, ông thi đậu đại học, học ngành trồng trọt ở Sài Gòn. Ở đó, ông quen bà xã – cũng con nhà nông quê gốc Long An, cùng ngành, cùng lớp. Học xong, cũng là lúc tình cảm bùng cháy, nên họ quyết định cưới liền cho kịp thủ tục để “góp gạo thổi cơm chung”. Lý do vừa tình mà vừa lý: “Hồi đó, sinh viên tốt nghiệp xong phải nộp hồ sơ về tỉnh, mỗi đứa một nơi. Muốn được về chung thì chỉ có cách lập gia đình sớm”.
Về quê, người ở phòng nông nghiệp, người vô công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, rồi lần lượt trải qua nhiều công việc khác nhau, nhưng không chạy khỏi… ranh gắn với ruộng. Ông ví von: “Vợ chồng tôi như hai con cá cùng dòng, cứ vậy mà đi hết mấy chục năm, từ thời thanh xuân tới lúc tóc bạc”.
Di sản từ… đồ chơi
Bước rẽ cuộc đời đến với ông vào năm 2011, khi sắp về hưu. Chuyện miếng ruộng, cái cày, con cá nuôi mình một đời cứ cộm lên, cựa quậy: “Tôi sinh ra, lớn lên giữa ruộng lúa, chơi với đồng đất, nhớ từng mùa mưa, từng mùa gặt. Cái đó nó vô máu mình rồi. Gần tuổi hưu, tôi muốn làm cái gì để con cháu còn nhớ, để tụi nhỏ hiểu ông bà đã sống, đã canh tác ra sao”.
.jpg)
Vậy là sáu năm ròng, ông lặn lội khắp nơi gom góp từng cái cày, cái bừa, cái lu, cái nia, nong, lờ, lọp... Nhiều món tưởng bỏ đi, vô tay ông lại thành di sản. Ban đầu, ông chỉ định để con cháu trong nhà coi chơi. “Ai ngờ khách tới đông, học sinh, sinh viên cũng tìm về, thành ra tôi làm thành Hội quán Lúa Mùa cho bà con, khách tham quan ghé thăm”, ông hồn hậu mỉm cười giải thích về sự ra đời của Hội quán Lúa mùa Tư Việt (Farmstay Lúa mùa Tư Việt) ở địa chỉ 373 QL61, KP Minh Phú, Châu Thành, Kiên Giang cũ (nay thuộc tỉnh An Giang), hồi năm 2017.
Đến đó, người ta sẽ được ông dẫn dụ lang thang với hành trình nhà nông, nghe ông kể: chuyện một mùa lúa sáu tháng trời, chuyện dân miệt đồng ăn Tết xong rồi mới tát đìa, dựng nhà, chuyện nông cụ từ thô sơ tới cải tiến dần theo năm tháng. Thỉnh thoảng, có đoàn khách muốn nghe nhạc dân tộc, ông lại mời mấy nghệ sĩ về đàn cho vui. “Đó là tri thức bản địa, là văn hóa mấy trăm năm ông bà mình đúc kết. Nếu không kể, không gìn giữ, nó mất tiêu hết trơn”, ông nói vậy.

Vốn chữ nghĩa cả đời đã dùng để miệt mài với ruộng, nay lên… bàn, biến thành sách, khi chính câu chuyện từ sách mới rút ruột hơn, đằm hơn, sâu hơn cái ân tình của đứa con với nồng nàn đất mẹ. Ông viết miệt mài. Cuốn đầu tiên tên Đời sống lúa mùa ở quê tôi, xuất bản lần đầu ở Đại học Cần Thơ 2018, sau tái bản ở Nhà xuất bản Phụ nữ. Rồi tới cuốn Minh Lương – Quê hương tôi (2019), và mới đây là Thương lắm lúa mùa ơi. Mỗi cuốn sách là một mảnh hồn của đồng đất, của con người Nam bộ.
Trồng để giữ văn hóa
Nhiều người nói Tư Lúa mùa “chơi ngông”, năm nào cũng lỗ, ông vẫn kiên trì trồng lúa mùa, theo riết chuyện lúa mùa.
Lỗ là đúng thôi, lúa ngắn ngày, năng suất cao, bán dễ, dễ kiếm lời, còn lúa mùa sáu tháng, năng suất thấp, chim chuột phá dữ, tốn công giữ giống, lại không ai mặn mà. Ông thiệt tình: “Tính ra, từ năm 2017 tới giờ, tui lỗ hơn nửa tỷ”. Vậy mà ông vẫn làm. “Không phải trồng để giàu. Tui trồng để giữ văn hóa. Lúa mùa không còn, coi như hồn quê cũng mất”, giọng ông quả quyết.
.jpg)
Để giữ được cánh đồng sạch, ông còn thuê cả ruộng hai bên Hội quán, tránh việc người dân phun thuốc hóa học bay qua. Cánh đồng 2,5 hecta của ông, năm nào cũng gieo hơn mười giống lúa khác nhau: Nàng Thơm, Câu Hồng Vỏ, Tám Hương, Chim Rơi… Một số là giống đặc thù vùng Long An, còn lại là giống của An Giang, Kiên Giang. Mỗi giống lúa là một câu chuyện cùng cả miền ký ức.
Khách ghé Hội quán Lúa mùa Tư Việt nhiều nhất là học sinh. Ông kể chuyện mà cảm xúc cứ nhảy quãng từ vui vẻ sang trầm ngâm: “Đám nhỏ nghe tui kể mà mắt tròn xoe. Có đứa là người Khmer, nói con về hỏi cha mẹ cũng không còn biết mấy nông cụ xưa. Nếu mình không nói lại, không ai nhớ, mai mốt mất hết”.
.jpg)
Ngồi với ông, thấy nhịp mùa màng chảy rần rật qua mùa chướng, hạn mặn, đánh đu theo con nước lớn nước ròng, hiện diện gương mặt người đồng bằng một thuở bắt nhịp thời tiết chẳng sai chút nào. Giữ lúa mùa là giữ tri thức ứng xử với thiên nhiên: năm mưa nhiều thì làm sao, năm nắng nhiều tính thế nào, con người phải hợp tác, chia sẻ ra sao… Đó là kinh nghiệm truyền đời, mà lớp người như ông đã “đóng triện” thành lối sống, thành văn hóa đi theo mỗi khi xuống đồng. Không còn đơn thuần là trồng trọt nữa. Đó là tình yêu một đời nặng gánh với đất, với lúa.
Hội quán đó, bây giờ vẫn mở cửa, dẫu ông Tư Việt đã về vui thú điền viên. Ruộng lúa mùa vào vụ vẫn xanh, tới lứa thì gặt. Ông vẫn lấy lúa mang đi xay, cân gạo vào túi, dán thương hiệu Lúa mùa Tư Việt. Hình như ông chỉ bán gạo, mà đang gởi đi lời nhắn: Hãy giữ gìn văn hóa lúa mùa xưa!
.jpg)
Đọc, nghe ông nói, đi ra ruộng cùng ông, nhìn ông phăm phăm đi giữa ruộng, tận tay xúc từng lon gạo đổ vào trong túi, cẩn trọng vuốt ve, dán nhãn, rồi về nấu thử, ăn thử hạt gạo lúa mùa, mới thấu hiểu vì sao năm nào cũng lỗ, ông vẫn mỉm cười. Ông từng nói: “Tiền mất thì kiếm lại được, chớ văn hóa mà mất thì con cháu sau này đâu còn biết mình từ đâu tới”.
Không mất truyền nhân
Hơn nửa đời người gắn với hạt lúa, với bờ kênh, những thay đổi như bão táp trên cánh đồng với đủ thứ gam màu, cung bậc, ông Lê Quốc Việt đã nếm đủ. Nhưng có một điều khiến ông chưa bao giờ thôi nghĩ: Làm sao để nông thôn giữ được hồn mình, làm sao để nông nghiệp không mất đi căn tính?
.jpg)
Ông nói đồng bằng sông Cửu Long bây giờ như một cơ thể khỏe mạnh nhưng đang yếu dần từ bên trong, đất bạc màu, mùa màng biến đổi thất thường, nước mặn xâm nhập sâu... Người trẻ rời quê đi làm xa, ruộng đồng bỏ hoang hoặc bán cho doanh nghiệp. “Cái này không phải chuyện mới, nhưng càng ngày càng rõ. Nếu mình không tính, mai mốt con cháu mình chỉ còn thấy ruộng trên tấm lịch treo tường”, giọng ông như lạc đi.
Nhưng bất ngờ mắt ông bỗng sáng lên: “Không phải là không còn hy vọng đâu nghen. Tôi thấy vẫn có những đứa trẻ nó về, nó thương ruộng đồng lắm”. Ông kể rằng, có nhóm bạn trẻ ông từng làm việc cùng qua các dự án của VCIL Community ở Đà Nẵng và Kulavn ở Sài Gòn. Họ không phải là hình ảnh “nông dân truyền thống” mà ông quen, nhưng lại có một điểm chung: tình yêu thật sự với đất, với quê, với con người chân chất. Có bạn từng là học sinh giỏi toàn quốc, giành học bổng Bách Khoa nhưng bỏ ngang để học về phát triển, kết nối cộng đồng. Lại có bạn chưa từng qua trường đại học, nhưng nói sõi tiếng Anh, am hiểu và có khả năng thuyết trình trên nhiều lĩnh vực về xã hội, kinh tế, tài chính; biết vận hành các dự án xã hội kết nối nhiều quốc gia. Mục tiêu của các bạn ấy là chia sẻ tri thức, gắn kết cộng đồng, xây dựng lối sống gần gũi thiên nhiên và giữ gìn văn hoá, tri thức bản địa của ông bà xưa.

Vậy là ông sẽ có truyền nhân? Ông chậm rãi: “Mai này, khi tôi không còn, tụi nó sẽ là người kể tiếp câu chuyện đồng bằng. Mà câu chuyện đó không chỉ là chuyện cơm gạo, nó là chuyện giữ lấy ký ức, giữ lấy căn tính của một vùng đất”.
Vậy là lúa mùa vẫn còn đó, mặc bao bão táp trên đồng. Vậy là vững tin, sẽ có những người… chơi ngông nữa sẽ xuất hiện.
