Đáng chú ý

Ngư dân Cù Lao Chàm: Rời con thuyền kiếm sống, lên chuyến xe mưu sinh

MỸ HUYỀN • 08/08/2026 8:08

Sáng sớm còn vác thúng chai xuống biển, vài giờ sau, nhiều ngư dân phải khoác đồng phục xe ôm...

Thành viên Hợp tác xã Xe ôm Cù Lao Chàm đưa du khách tham quan đảo bằng xe máy. Mô hình vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa góp phần hạn chế phương tiện cá nhân và hướng đến phát triển du lịch bền vững.
Thành viên Hợp tác xã Xe ôm Cù Lao Chàm đưa du khách tham quan đảo bằng xe máy. Mô hình vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa góp phần hạn chế phương tiện cá nhân và hướng đến phát triển du lịch bền vững.

Những 'hướng dẫn viên mới nổi' ở Cù Lao Chàm

Tàu du lịch vừa cập bến Cù Lao Chàm, hàng chục chiếc xe máy đã chờ sẵn. Những người mặc đồng phục Hợp tác xã Xe ôm nhanh chóng đón khách, đưa họ men theo các con dốc để khám phá hòn đảo.

Nếu không được giới thiệu, ít ai biết phần lớn những tài xế ấy đều là ngư dân.

Hướng dẫn viên Mai Đăng Cường cho biết họ hiểu rõ từng ngóc ngách trên đảo, từ Bãi Xếp, cây ngô đồng bên con dốc đến sân bay trực thăng...

“Với cách nói chuyện còn mộc mạc, các anh chị sẽ chọn những điểm độc đáo nhất để giới thiệu cho du khách. Sau những giờ đi biển, họ cũng rất thích tiếp chuyện với khách để cân bằng cảm xúc”, anh Cường nói.

Hướng dẫn viên Mai Đăng Cường cùng đoàn khách trên tàu ra đảo Cù Lao Chàm. Sự phát triển của du lịch đã mở ra nhiều việc làm mới cho người dân địa phương, từ lái xe ôm, hướng dẫn viên đến các dịch vụ lưu trú và ẩm thực.
Hướng dẫn viên Mai Đăng Cường cùng đoàn khách trên tàu ra đảo. Sự phát triển của du lịch đã mở ra nhiều việc làm mới cho người dân địa phương, từ lái xe ôm, hướng dẫn viên đến các dịch vụ lưu trú và ẩm thực.

Như vậy, công việc của những ngư dân này không chỉ dừng ở việc chở khách. Với vốn hiểu biết tích lũy qua nhiều năm sống cùng biển, họ phần nào trở thành những hướng dẫn viên bản địa, giúp du khách khám phá Cù Lao Chàm bằng những câu chuyện và trải nghiệm gần gũi hơn.

Nhưng phía sau chiếc áo xe ôm là cuộc mưu sinh không dễ dàng.

Một ngày, hai nghề

Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu theo cha đi biển từ năm 22 tuổi. Hiện nay, anh thường đi một mình. Khoảng 4 giờ sáng, anh vác thúng chai lên thuyền, ra biển thả lưới bắt cá chùng, cá nhói, cá dỗi. Có chuyến chiều tối, 5 giờ anh lại chèo thuyền đi câu mực và chỉ trở về khi trời rạng sáng. Vợ anh mang số hải sản đánh bắt được ra chợ bán.

“Có hôm được tám ký mực, có hôm chỉ được một ký rưỡi”, anh kể.

Nghề biển không chỉ phụ thuộc vào nguồn cá mà còn bị thời tiết chi phối. Có hôm, chiếc thúng nặng vừa được thả xuống mặt nước đã phải kéo lên vì gió lớn. Với ngư dân, điều thất vọng nhất sau một ngày lênh đênh là phải tay trắng trở về.

Mười bốn năm qua, anh Dũng làm thêm nghề xe ôm chở khách tham quan đảo. Bảy năm gần đây, anh trở thành Đội trưởng Hợp tác xã Xe ôm Cù Lao Chàm. Nghề biển vẫn là nguồn thu nhập chính. Nhưng thời gian bám biển của anh hiện chỉ còn khoảng 5 - 6 giờ mỗi ngày, thay vì 8 - 10 giờ như trước.

Vợ chồng anh Nguyễn Thanh Tùng và chị Trần Thị Hạnh cũng có nhịp sống tương tự. Khoảng 4 giờ 30 sáng, anh Tùng lái thuyền ra các đảo nhỏ quanh Cù Lao Chàm thả lưới. Khi thuyền về bờ, hai vợ chồng bán hải sản cho thương lái rồi nhanh chóng thay quần áo, bắt đầu công việc thứ hai vào khoảng 8 giờ.

“Có tháng nhà tôi đi biển chỉ được 2 triệu đồng, không đủ sống. Xong việc của ngư dân, vợ chồng tôi lại khoác áo xe ôm để làm du lịch”, chị Hạnh nói.

. Chị Trần Thị Hạnh, thành viên Hợp tác xã Xe ôm Cù Lao Chàm, tranh thủ đón khách trong giờ làm việc. Sau khi nghề khai thác thủy sản bị thu hẹp để bảo vệ hệ sinh thái biển, nhiều ngư dân trên đảo chuyển sang làm du lịch.
Chị Trần Thị Hạnh, thành viên Hợp tác xã, tranh thủ đón khách trong giờ làm việc. Sau khi nghề khai thác thủy sản bị thu hẹp để bảo vệ hệ sinh thái biển, nhiều ngư dân trên đảo chuyển sang làm du lịch.

Gia đình chị có truyền thống nhiều đời đánh cá quanh hòn đảo này. Trước đây, nghề biển tuy khó làm giàu nhưng vẫn đủ trang trải cuộc sống. Những năm gần đây, thu nhập trở nên bấp bênh. Có ngày đánh bắt được 500.000 - 700.000 đồng tiền cá, nhưng tính cả năm vẫn khó ổn định vì mùa vụ và thời tiết.

Trong khi đó, một người con của chị đang học phổ thông ở Hội An, mỗi tháng tốn khoảng 3 triệu đồng tiền học, trọ và ăn uống. Nếu chỉ trông vào nghề biển, gia đình khó lo nổi chi phí hiện tại và tương lai của các con.

Giữ biển, ngư dân phải thay đổi

Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2009. Trước đó, Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm đã được thành lập với các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái, dịch vụ - hành chính và vùng đệm.

Nhiều khung ươm san hô được xây dựng để phục hồi những diện tích rạn bị hư hại. Các bãi đẻ, khu vực sinh sản của sinh vật biển được bảo vệ. Vào mùa cá, tôm sinh sản, hoạt động đánh bắt bị hạn chế.

Đó là lựa chọn cần thiết để phục hồi nguồn lợi thủy sản, bảo vệ san hô và gìn giữ cảnh quan. Bởi nếu tiếp tục khai thác như trước, nguồn cá suy giảm, san hô bị tổn thương và môi trường xuống cấp. Khi đó, chính sức hấp dẫn của hòn đảo đối với du khách cũng khó được duy trì.

Nhưng khi một phần không gian và thời gian khai thác bị thu hẹp, những người chịu tác động trực tiếp đầu tiên chính là ngư dân. Họ không còn có thể đánh bắt với cường độ như trước. Đồng nghĩa, họ phải chấp nhận giảm một phần nguồn thu truyền thống để bảo vệ lợi ích lâu dài của cả khu bảo tồn.

Du lịch sinh thái phát triển đã mở ra một lối thích ứng. Những gia đình có vốn tham gia mở homestay, hàng quán và các dịch vụ khác. Với nhiều ngư dân ít điều kiện đầu tư, chiếc xe máy trở thành phương tiện đơn giản nhất để tham gia vào chuỗi dịch vụ du lịch.

Ban đầu, lực lượng xe ôm hình thành tự phát. Khi lượng khách tăng, số người chạy xe nhiều hơn và từng xuất hiện tình trạng chèo kéo. Sau đó, khoảng 70 hộ dân tham gia Hợp tác xã Xe ôm. Mỗi hộ cử một người, một xe. Các lượt khách được phân chia xoay vòng để mọi thành viên đều có cơ hội làm việc.

Mô hình này không chỉ tạo thêm thu nhập mà còn biến vốn sống của ngư dân thành một phần của sản phẩm du lịch. Họ chở khách, giới thiệu những điểm đến ít người biết, kể chuyện về biển và về đời sống trên đảo. Nếu được tổ chức bài bản hơn, mỗi tài xế có thể trở thành một hướng dẫn viên cộng đồng, giúp du khách hiểu vì sao hệ sinh thái nơi đây cần được bảo vệ.

Sinh kế thay thế vẫn còn bấp bênh

Dù vậy, chạy xe ôm chưa phải lời giải trọn vẹn.

Khách đến Cù Lao Chàm chủ yếu vào mùa hè. Mùa đông, hoạt động du lịch gần như ngưng trệ vì mưa bão và biển động. Thời gian phục vụ khách của đội xe ôm mỗi ngày chỉ khoảng 1,5 - 2 giờ, phụ thuộc vào lịch trình của các đoàn khách. Mỗi tài xế thường chỉ chở được 2 - 3 lượt, và không phải ngày nào lượng khách cũng đủ chia cho khoảng 70 xe.

Hoạt động theo mô hình hợp tác xã còn phát sinh chi phí vận hành và thuế. Giá xăng, sửa chữa xe và thực phẩm đều cao hơn đất liền do phải vận chuyển từ bờ.

Vì thế, ngoài giờ hoạt động của hợp tác xã, nhiều người vẫn phải chở thêm khách lưu trú qua đêm, cho thuê xe máy hoặc làm những công việc khác.

Chị Hạnh nấu ăn tại homestay, anh Tùng làm thêm nghề cơ khí. Người trẻ biết sử dụng mạng xã hội có thể quảng bá tour, tìm khách từ đất liền và bớt lệ thuộc vào các đoàn tham quan.

Câu chuyện những ngư dân khoác áo xe ôm không chỉ là điểm độc đáo du lịch. Đó là lát cắt về sự đánh đổi và thích ứng của cộng đồng sống trong khu bảo tồn.

Muốn giữ san hô, nguồn lợi thủy sản và cảnh quan, ngư dân không thể khai thác như cũ. Nhưng nếu sinh kế thay thế không giúp họ đủ sống, nhiệt huyết bảo tồn sẽ khó bền vững.

Một khu bảo tồn thành công không thể chỉ có thiên nhiên được phục hồi trong khi cư dân ngày càng nghèo đi. Thành công ấy phải được đo bằng cả khả năng giúp người dân chuyển đổi sinh kế. Để họ tham gia sâu hơn vào du lịch cộng đồng, sống tốt hơn từ chính những giá trị mà họ góp phần gìn giữ.

Bảo tồn sinh kế thì mới bảo tồn thiên nhiên bền vững

Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế và UBND tỉnh đang cùng bảo tồn và phát triển các phương thức sinh kế cho cộng đồng địa phương. Trong đó có các chương trình tập huấn để người dân có thể chuyển đổi nghề, tận dụng các cơ hội ở khu bảo tồn để phát triển các nghề mới.

Tại Cù Lao Chàm, WWF-Việt Nam đang phối hợp với Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Cù Lao Chàm và các đối tác triển khai dự án “Thí điểm phục hồi cỏ biển kết hợp cải thiện sinh kế tại Cù Lao Chàm – dự án GCBC”. Khi người dân có sinh kế ổn định và cùng hưởng lợi từ việc gìn giữ tài nguyên thiên nhiên, thì việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái cỏ biển mới bền vững.

Đến nay, dự án đã và đang hỗ trợ hai mô hình gồm Hợp tác xã Mộc Chàm và Tổ khai thác, chế biến thủy sản tại Bãi Hương. Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật, dự án còn giúp xây dựng thương hiệu, kết nối thị trường và hoàn thiện các yêu cầu về an toàn thực phẩm.

“Về lâu dài, bảo tồn và sinh kế của người dân địa phương không nên được nhìn nhận là hai mục tiêu đối lập. Một hệ sinh thái khỏe mạnh sẽ tạo nền tảng cho nguồn lợi thủy sản ổn định hơn và mở ra thêm những cơ hội sinh kế bền vững cho cộng đồng”, ông Nguyễn Thành Huy - Quản lý dự án Thí điểm phục hồi thảm cỏ biển kết hợp cải thiện sinh kế tại Cù Lao Chàm (dự án GCBC) thuộc Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên WWF-Việt Nam nhận định.

WWF-Việt Nam cũng đang phối hợp với World Vision triển khai dự án Hành lang Xanh (BAF) tại Cù Lao Chàm, qua đó tiếp tục hỗ trợ bảo tồn biển và phát triển sinh kế cộng đồng. Các chương trình này được kỳ vọng sẽ bổ trợ cho nhau, tạo thêm nguồn lực để mở rộng cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập và xây dựng sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

“WWF khuyến khích đa dạng hóa nguồn thu nhập, phát huy lợi thế địa phương như chế biến sản phẩm từ rong biển, lá rừng và thủy sản, kết hợp với du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Những mô hình này giúp giảm sự phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác thủy sản, đồng thời tăng khả năng thích ứng trước biến động nguồn lợi và biến đổi khí hậu.”, ông Huy cho biết.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Ngư dân Cù Lao Chàm: Rời con thuyền kiếm sống, lên chuyến xe mưu sinh
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO