Hơn 20 năm 'du mục', mắc ca ở Nghệ An nay đã an cư
Từng bị lãng quên sau thời gian trồng thử nghiệm, cây mắc ca đang dần hồi sinh trên đất Nghệ An. Hạt mắc ca mang hương vị riêng của vùng đất gió Lào, cùng chuỗi liên kết từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, đang mở ra kỳ vọng về một cây làm giàu mới cho nông dân.

Hơn 2 thập kỷ long đong trên vùng đất mới
Những vườn mắc ca xanh mướt, trĩu quả ở các vùng đồi Nghệ An được chia sẻ trên mạng xã hội thời gian gần đây khiến nhiều người không khỏi bất ngờ. Ít ai nghĩ loại hạt được mệnh danh là “nữ hoàng” lại có thể bén rễ, thích nghi với vùng đất gió Lào khắc nghiệt. Nhưng để có những vườn cây trĩu quả hôm nay, loại cây danh giá đã trải qua hơn 20 năm thử nghiệm, có lúc tưởng chừng bị lãng quên trên đất Nghệ An.
Nghệ An hiện có hơn 400ha cây mắc ca, tập trung nhiều nhất ở các xã thuộc huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp và Quỳnh Lưu cũ. Theo người dân địa phương, thực chất cây này đã bén duyên với mảnh đất Nghệ An từ năm 2003. Thời điểm đó, một số lâm trường ở miền Tây Nghệ An đưa vào trồng thử nghiệm với kỳ vọng bổ sung một hướng sản xuất cho những vùng đất đồi rộng lớn.
Những lứa cây đầu tiên trên vùng đồi Nghệ An từng khiến người trồng đặt nhiều kỳ vọng. Cây bén đất, xanh tốt, tán vươn rộng, chẳng mấy khác biệt so với những vùng trồng khác. Nhưng rồi, sau màu xanh ấy là một câu chuyện khác. Người trồng khi đó chưa có nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật chăm sóc còn hạn chế, nhất là khâu tác động đến quá trình ra hoa, đậu quả. Thị trường tiêu thụ cũng chưa hình thành, hạt sau mỗi vụ thu hoạch chủ yếu được gom bán cho thương lái với giá bấp bênh.

Có vụ, tiền bán hạt chẳng đủ bù công chăm sóc. Những vườn cây xanh mướt vì thế dần bị bỏ mặc giữa đồi. Người trồng mất kiên nhẫn, không ít nông dân đành cưa bỏ cả vườn để lấy đất trồng những loại cây quen thuộc hơn, đầu ra dễ hơn. Giống cây từng được kỳ vọng mở ra hướng làm ăn mới trên vùng đất đỏ bazan xứ Nghệ cứ thế thu hẹp diện tích, chỉ còn sót lại một số ít, như dấu vết của một cuộc thử nghiệm dang dở.
Chuyện bất ngờ
Bước ngoặt chỉ đến vào năm 2017, khi Hiệp hội Mắc ca Việt Nam tổ chức các đoàn công tác về miền Tây Nghệ An để khảo sát những diện tích mắc ca còn sót lại. Ông Dương Tiến Thành - Giám đốc Công ty TNHH TM & DV Bảo Ngọc, là một trong những thành viên tham gia đoàn. Các thành viên lần tìm những cây được trồng từ hàng chục năm trước, đánh giá điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và chất lượng hạt.
Điều khiến đoàn khảo sát bất ngờ là giữa những vùng đồi tưởng như đã bị bỏ quên, vẫn có những cây sinh trưởng khỏe, cho sản lượng khá. Có cây lâu năm cho tới cả trăm kg hạt mỗi vụ. Những mẫu hạt được lấy để phân tích cũng cho thấy hàm lượng dinh dưỡng cao, mở ra cơ sở để đánh giá lại khả năng phát triển của loại cây này ở Nghệ An.
Theo ông Thành, mắc ca là cây ưa khí hậu mát lạnh, được trồng chủ yếu ở Tây Nguyên và Tây Bắc. Tại miền Trung, đặc biệt là Nghệ An lại có khí hậu khá khắc nghiệt, mùa hè nắng nóng gay gắt, oi bức bởi hiệu ứng gió Lào (gió phơn Tây Nam). Tuy nhiên, thời điểm mắc ca ra hoa, đậu quả, thường vào tháng 1-2, nền nhiệt tại nhiều khu vực vẫn dao động khoảng 15-25 độ C, phù hợp cho quá trình phân hóa mầm hoa và đậu quả. Thực tế từ những cây lâu năm còn sót lại cũng cho thấy, nếu được chăm sóc, cắt tỉa đúng kỹ thuật, cây vẫn có thể cho sản lượng khá.

Không chỉ sinh trưởng, hạt của cây này trồng trên đất Nghệ An còn được người dân cảm nhận có hương vị riêng. Chị Nguyễn Ngọc Hà (trú phường Tây Hiếu, tỉnh Nghệ An) cho biết, hạt của nó ở Nghệ An có thể không phải lúc nào cũng đồng đều về kích thước, nhưng phần nhân thơm, bùi, béo tự nhiên, khi ăn có độ giòn và vị ngậy. Theo ông Thành, điều kiện khí hậu đặc thù của Nghệ An cũng có thể tạo nên nét riêng cho sản phẩm. “Chính điều kiện thời tiết khắc nghiệt lại giúp hạt cây này ở Nghệ An có lượng tinh dầu cao hơn, hương vị đặc trưng so với các nơi khác”, ông nói.
Hồi sinh cây mắc ca, dựng chuỗi liên kết để làm giàu
Sau những chuyến khảo sát, nhiều cuộc hội thảo với sự tham gia của các chuyên gia thuộc Hiệp hội Mắc ca Việt Nam và các nhà khoa học nông nghiệp tiếp tục được tổ chức. Những kết quả đánh giá về khí hậu, đất đai, khả năng sinh trưởng và chất lượng hạt đưa đến nhận định tích cực về cơ hội phát triển của cây này ở Nghệ An.

Nhận thấy tiềm năng này, năm 2019, cơ sở sản xuất cây giống của Công ty TNHH TM & DV Bảo Ngọc chính thức đi vào hoạt động. Đây là cơ sở sản xuất giống mắc ca duy nhất trên địa bàn tỉnh Nghệ An do Hiệp hội Mắc ca Việt Nam quản lý.
Lần này, việc trồng không còn được đưa xuống đất theo cách tự phát như trước. Công ty phối hợp với Hiệp hội Mắc ca Việt Nam tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nông dân từ khâu làm đất, trồng cây đến chăm sóc. Đặc biệt, doanh nghiệp cam kết thu mua sản phẩm, giúp người dân bớt lo đầu ra.
Sau gần 5 năm chăm sóc, hơn 1.300 cây này trên diện tích 3ha của ông Hồ Văn Đức (56 tuổi, trú xã Nghĩa Mai, tỉnh Nghệ An) đã bắt đầu cho quả bói. “Năm nay cây mới cho quả bói nhưng dự kiến cũng thu hoạch được khoảng 2 tấn”, ông Đức nói và cho hay, trồngnó mất thời gian dài để chờ thu hoạch, nhưng bù lại cây có vòng đời trên 50 năm nên trồng 1 lần cho thu nhập cả đời người. Đây là cây tương đối dễ trồng, không tốn nhiều công chăm sóc nên khá nhàn.
Theo ông Thành, mỗi ha cầy này đầu tư chỉ mất từ 30-40 triệu đồng bao gồm tiền giống cây, phân bón, nhân công làm đất, trồng… Cây từ lúc trồng đến khi thu hoạch phải mất 5 năm, nhưng năng suất rất ổn định, năm sau cao hơn năm trước. Từ năm thứ 8, cây sẽ bắt đầu cho thu hoạch ổn định. khi cây bước vào giai đoạn cho quả ổn định, cây này có thể mang lại thu nhập khoảng 400-500 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 10 lần so với cây keo.
Từ vùng nguyên liệu, quả được đưa về nhà máy chế biến và nông sản ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH TM & DV Bảo Ngọc. Nhà máy được đầu tư hệ thống dây chuyền với công suất đủ để tiếp nhận sản lượng từ vùng nguyên liệu của nông dân. Hạt, sau thu hoạch không chỉ được bán thô, mà được chế biến thành nhiều sản phẩm như hạt sấy khô, dầu và rượu. Cả 3 sản phẩm đều đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao. “Chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu để chế biến hạt sâu hơn nữa”, ông Thành nói.
Ông Nguyễn Viết Hùng - Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Nghệ An đánh giá, việc doanh nghiệp đầu tư hệ thống nhà xưởng khép kín, được đánh giá đạt tiêu chuẩn HACCP, gia công và đóng gói trong phòng kín vô trùng là hướng đi phù hợp. Khi sản phẩm được chế biến ngay tại địa phương, giá trị của hạt này không còn chỉ nằm ở việc bán nguyên liệu thô. Chuỗi liên kết từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ có thể góp phần xây dựng thương hiệu của nó ở Nghệ An, mở rộng thị trường phân phối và hướng tới xuất khẩu.
Thận trọng khi mở rộng vùng nguyên liệu
Hơn 20 năm sau lần đầu được đưa về Nghệ An trồng thử nghiệm, mắc ca vẫn đang trong quá trình tìm lời giải cho bài toán thích nghi và hiệu quả. Giống cây lấy hạt này đã chứng minh khả năng sinh trưởng trên nhiều vùng đất miền núi, nhưng để phát triển thành cây trồng hàng hóa lại là câu chuyện khác.

Cây có thể sinh trưởng tốt ở nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nhưng sinh trưởng khỏe không đồng nghĩa với việc sẽ cho năng suất cao. Theo ông Thành, cây ra hoa, kết trái vào đầu mùa xuân, cũng là thời điểm một số khu vực miền núi Nghệ An thường xuất hiện sương mù dày đặc. Nếu sương mù kéo dài sẽ tác động rất lớn đến quá trình thụ phấn.
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng cần tính đến trước khi mở rộng vùng nguyên liệu. “Mắc ca có thể sinh trưởng tốt nhưng để cho năng suất cao lại là chuyện khác. Thời điểm cây ra hoa, kết trái, một số khu vực ở miền núi Nghệ An thường có sương mù dày đặc. Nếu sương mù nhiều, cây dù ra hoa cũng sẽ đậu quả rất thấp dẫn đến năng suất kém”, ông phân tích.
Thời gian gần đây, lãnh đạo một số xã miền núi Nghệ An đã tìm đến các vườn trồng để khảo sát, tìm hiểu khả năng đưa cây trồng này về địa phương với kỳ vọng tạo thêm sinh kế, giúp người dân giảm nghèo. Tuy nhiên, ông Thành khuyến cáo việc mở rộng diện tích cần được thực hiện thận trọng, không nên đưa cây vào trồng ồ ạt khi chưa đánh giá kỹ điều kiện từng vùng.
Theo ông, mỗi khu vực cần được trồng thử ở quy mô phù hợp, theo dõi qua nhiều vụ về khả năng sinh trưởng, thời điểm ra hoa, tỷ lệ đậu quả, năng suất và hiệu quả kinh tế. Chỉ khi những yếu tố này được kiểm chứng thực tế, việc nhân rộng mới có cơ sở, tránh lặp lại vòng luẩn quẩn của cây này trong lần thử nghiệm đầu tiên.
