HDI là gì mà được Nghị quyết 57 đưa vào mục tiêu phát triển quốc gia?
Ngoài các mục tiêu đóng góp năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế số… Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn xác định “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.”

Có thể thấy đây là một trong những định hướng thể hiện quan điểm khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không nằm riêng lẻ với phát triển văn hoá, xã hội, con người, lấy con người làm trung tâm trong quá trình phát triển đất nước.
Chỉ số phát triển con người (HDI) là gì?
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là thước đo tổng hợp do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) xây dựng nhằm đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia không chỉ dựa trên quy mô kinh tế, mà còn dựa trên chất lượng cuộc sống của người dân. Khác với các chỉ số như GDP hay tốc độ tăng trưởng kinh tế, HDI đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển.
HDI được tính trên ba trụ cột cơ bản gồm:
Sức khỏe: thể hiện qua tuổi thọ trung bình của người dân; đo bằng tuổi thọ trung bình khi sinh
Giáo dục: phản ánh số năm đi học và cơ hội tiếp cận tri thức;đo bằng số năm đi học trung bình của người trưởng thành và số năm đi học kỳ vọng của trẻ em
Mức sống: thể hiện mức sống và năng lực tạo ra của cải; đo bằng Tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người theo sức mua tương đương - PPP.
Chỉ số có giá trị từ 0 đến 1, trong đó giá trị càng cao phản ánh mức độ phát triển con người càng lớn. Theo cách phân loại của UNDP, các quốc gia có HDI từ 0,800 trở lên thuộc nhóm phát triển con người rất cao; từ 0,700 đến dưới 0,800 thuộc nhóm phát triển con người cao; từ 0,550 đến dưới 0,700 là nhóm trung bình; và dưới 0,550 là nhóm thấp.
Khác với GDP - chỉ phản ánh quy mô nền kinh tế - HDI cho biết người dân có thực sự được sống khỏe hơn, học tập tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn hay không. Theo cách phân loại của UNDP, mức HDI từ 0,7 trở lên thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao.
Theo Báo cáo Phát triển Con người do UNDP công bố, Việt Nam hiện đạt chỉ số HDI 0,766, thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao, xếp thứ 93 trên thế giới.
Điểm đáng chú ý là trong Nghị quyết số 57-NQ/TW, lần đầu tiên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định không chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế mà còn phải đóng góp trực tiếp vào việc duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trên 0,7 đến năm 2030.
Khoa học, công nghệ góp phần nâng HDI như thế nào?
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết 57 định hướng phát triển đồng bộ nhiều lĩnh vực.
Trong giáo dục, chuyển đổi số sẽ mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức thông qua học liệu số, nền tảng học tập trực tuyến, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cá nhân hóa việc học, đồng thời đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM).
Trong y tế, việc phát triển y tế số, hồ sơ sức khỏe điện tử, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chẩn đoán, khám chữa bệnh từ xa và hệ thống dữ liệu y tế sẽ giúp người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhanh hơn, chính xác hơn, kể cả ở vùng sâu, vùng xa.
Trong mức sống, đổi mới sáng tạo được kỳ vọng tạo ra nhiều ngành nghề mới có giá trị gia tăng cao, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy kinh tế số và hình thành lực lượng lao động có kỹ năng tốt hơn, từ đó cải thiện thu nhập của người dân.
Đồng thời, việc xây dựng Chính phủ số, dữ liệu số và các nền tảng số quốc gia cũng góp phần nâng cao chất lượng quản trị, giảm chi phí xã hội và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công.
Những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 57-NQ/TW
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc “hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí”; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.
Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
