Gò Cỏ - nơi không ai 'thất tình'
Bốn giờ sáng, xe dừng ở Ủy ban xã Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Mấy cô xóm chài đi từ Quảng Bình cũng xuống xe, thả xuống đường rất nhiều hải sản, đồ nghề đánh cá. Chỉ chớp nhoáng, mấy chiếc xe ba gác đã chạy đến chở cả người cả đồ đi mất hút. Nhìn vẻ bận bịu, chẳng ai nghĩ đó là 4h sáng.

Những câu chuyện ở Gò Cỏ
Cô Sen đến đón tôi, câu đầu tiên cô nói là: “Trùi ui sao lại đi một mình con?”. Rồi cô bắt đầu kể chuyện, nói: con bằng tuổi con dâu cô đó. Con trai cô sinh năm 92 chưa vợ, có làm dâu cô không? Ở làng cũng có bé Ánh từ Hà Nội vô, đang làm việc trên trung tâm…
Ngang qua chợ, cô kêu vô ăn bánh xèo, ăn luôn cho nóng. Chợ lúc 4 rưỡi sáng đã có mấy hàng ăn sáng. Các cô các chú đang cắm cúi chuẩn bị đồ lề, thấy cô Sen vô, liền tíu tít trò chuyện. Ăn xong mấy chiếc bánh xèo, đi qua mấy con dốc cao, đến đầu làng liền gặp bà Tám. Bốn rưỡi sáng bà Tám đang đi thể dục, cô Sen kêu: “Về đón khách nì!”
Homestay tôi ở tên là “Tám Sương Gió”. Nhà có chiếc cổng xanh, giàn hoa giấy, bà Tám… sương gió để cho khách ở cái phòng siêu to, wifi chạy êm re.
Trong giấc ngủ bù bập bùng buổi sáng mai, tiếng bà Tám ngoài cổng loáng thoáng lọt vào, kể chuyện ai đó mới về đây vì “si tình”. Hóa ra ở đây người ta nói “si tình” thay vì “thất tình”. Làm như trên đời này chỉ có chuyện người ta yêu quá nhiều, chứ không có chuyện mất đi tình yêu.
Nơi thời gian ngưng đọng
Đúng như lời một người bạn đã nói với tôi… hai năm trước, Gò Cỏ giống như nơi thời gian ngưng đọng, tách biệt với sự phát triển ồn ào của thế giới bên ngoài. Một ngôi làng chài ven biển hoang sơ và xinh đẹp với những nét sống nguyên bản, chân thật.

Gò Cỏ nằm nép mình yên bình trên những dải gò đồi ven biển Sa Huỳnh, tạo nên một làng biển trên dốc cao có vị thế độc đáo. Không chỉ là một ngôi làng biển, mảnh đất bé nhỏ ấy còn là nơi cất giữ những lớp trầm tích văn hóa đồ sộ, từ thời Sa Huỳnh cách đây 2.500 - 3.000 năm, qua văn hóa Chăm Pa rực rỡ, cho đến đời sống dân dã của cư dân Đại Việt.

Dạo quanh những con đường nhỏ rợp bóng cây, tôi trầm trồ nhận ra vẻ đẹp khác biệt của Gò Cỏ là nhờ… đá. Đá ở khắp nơi: đường làng đá, hàng rào xếp đá, giếng cổ xây đá, ruộng bậc thang, những suối nước len lỏi… Có gần chục giếng cổ vẫn còn được sử dụng. Đá granite ở làng có tuổi đời đến 400 triệu năm, kiến tạo nên một Gò Cỏ vừa bền vững, vừa mang vẻ đẹp cổ kính lạ lùng.

Khí chất làng biển cổ
Những vết tích từ xa xưa lặng lẽ hòa mình vào đời sống của ngôi làng bên ô cửa sổ sơn xanh, gốc hoa giấy nở rực trước cửa, những chậu hoa sắc màu đặt lô nhô trên bờ rào, có khi là một chiếc biển hiệu homestay được làm từ sò, hay một vạt xương rồng được trồng ngay hàng thẳng lối… Chắc hẳn đó là lý do ta thấy làng mộc mạc, bình dị, hoang sơ nhưng lại xinh xắn lạ lùng.
Càng tìm hiểu, càng nghe kể nhiều, tôi lại càng thấy Gò Cỏ giống như một “hóa thạch sống”. Không chỉ lưu giữ những dấu tích vật chất, mà còn là nơi bảo tồn nguyên vẹn mạch sống văn hóa, lối sinh hoạt, và cả khí chất của một làng biển cổ.

Người làng làm du lịch
Chị Ánh là một người trẻ từ Hà Nội vào làng tình nguyện, rồi ở lại làm việc lâu dài. Chị Ánh nói ở làng hầu như chỉ có người già và trẻ nhỏ, thanh niên từ lâu đã đi thành phố lập nghiệp. Mới chỉ một vài năm trước, khi Hợp tác xã du lịch mới thành hình, các cô bà chú bác còn không tin được mình có thể tự làm du lịch, trở thành “chủ home đón khách”, thành “hướng dẫn viên du lịch”, thành một “ca sĩ” biểu diễn các bài chòi cổ mê đắm…
Vậy mà giờ ở làng, hoạt động du lịch diễn ra đều đặn quanh năm, đón rất nhiều lượt khách ta lẫn khách Tây. Làng được phát triển du lịch bởi chính những người con sinh ra ở nơi đây, sống ở đây, mang tình yêu với đất với biển. Họ không phải người xa lạ để mà mang đến bê tông cốt thép vô tri, và chăm chắm lấy đi lợi nhuận.
‘Quê ngoại’’ thân thương trong ký ức
Thấy tôi xách máy ảnh đi dạo, bà Tám với theo dặn: “Mười một giờ trưa bà nấu cơm, con về sớm ăn kẻo đói nghe”.
Tôi đã được các chị bên Hợp tác xã dặn dò rằng ở làng không có quán ăn, nếu đi chợ hoặc xuống thị trấn Sa Huỳnh ăn uống thì phải đi cỡ 2km (qua mấy con dốc) nên thường mọi người sẽ ăn cơm cùng các bà các cô.
Thế nhưng khi tỉnh dậy, thấy tô bún úp lồng, bà ở ngoài vườn khấp khiểng đi vào nói sáng nay mua bún trong lúc đi thể dục đó, ăn đi con. Hay khi bà nhìn theo bóng tôi vừa ra ngõ, dặn về ăn cơm sớm, một cảm giác ngỡ ngàng xúc động trào dâng, chuyến du lịch này thân thuộc như đang về quê ngoại.

Khách như người nhà
Bà Tám (sau này là cô Quế khi tôi quay về Gò Cỏ lần hai) thi thoảng vẫn để nhà cho khách trông. Bà cắp chiếc nón, dặn tôi - lúc ấy đang ngồi bấm máy tính bên cửa sổ: “Bà đi lên trước làng, con đi đâu thì khép cửa nghe”.
Trưa ngủ dậy bà lấy bánh kẹo trong tủ lạnh cho tôi, không quên dặn bà để nước mát trong tủ, con muốn ăn uống gì cứ lấy. Tôi theo bà ra sân sau đưa võng dưới cây mít, gió chiều thổi hiu hiu, bà Tám ngồi nhặt rau, tám chuyện với mấy cô hàng xóm. Cơn gió lành mùa hè mang kí ức thời thơ ấu quay về, những ngày ngoại còn sống, cuối tuần đạp xe lên ăn cơm, ra hè đưa võng liu riu ngủ.

Sau này khi quay về Gò Cỏ lần hai, bà Tám đi miền Nam thăm con, tôi ở nhà cô Quế đối diện. Cô đi đám giỗ trong xóm, gói về cho tôi một bịch bánh xèo. Trưa ngủ dậy hai cô cháu ngồi ăn, cô kể: “Cô sợ mi buổi trưa ăn ít đói nên cô mang về”.
Lúc tạm biệt cô để ra thị trấn bắt xe, cô còn nhét cho hai chiếc bánh ít để lên xe ăn. Nói tôi là khách du lịch ở nhà cô có hơn ngày không ai chịu tin.
Những trái tim ở Gò Cỏ
Đi Gò Cỏ về, tôi đăng Facebook một bài kể chuyện chị Ánh - cô kiến trúc sư trẻ từ Hà Nội về làng làm việc. Ban đêm chị dạy tiếng Anh, dạy vẽ cho mấy đứa nhỏ trong làng trên thư viện quay lưng về phía biển. Tôi bước vô mà tưởng chị đang bật nhạc lofi tiếng sóng biển, hóa ra là “hàng thật” từ đại dương bao la dưới kia. Chị Ánh yêu làng, yêu bọn trẻ tha thiết cũng như cách các ông các bà quý mến chị, như cách mấy đứa nhỏ í ới gọi cô Ánh suốt ngày. Dưới bài viết đó, các bạn toàn vào hỏi, chị Ánh có thật không, sao nghe như phim.

Cũng khó tin thật, khi mà ngôi làng Gò Cỏ bé nhỏ lại là nơi hội tụ của nhiều mối duyên lành, của những trái tim dạt dào tình yêu. Như chú Adam, chú Remy, những người khách ngoại quốc đi lạc vào làng rồi từ đó thăm làng đều đặn vào mỗi cuối tuần. Những vị khách đã phiêu dạt năm châu bốn biển, đi qua hàng trăm thắng cảnh khắp thế giới, vậy mà lúc rời đi, đều da diết nhớ ngôi làng nhỏ.
Tôi biết nhiều người từng là khách ở làng quay lại làm tình nguyện viên và những người tình nguyện viên ở làng quay lại… làm khách. Như chị Uyên vẫn hay nhắn tin hỏi thăm tình hình làng mỗi lần tôi ghé thăm, như Khánh, như anh Linh, những cựu tình nguyện viên sơ hở là đòi quay về làng.

Nơi để trở về
Những người tôi gặp ở Gò Cỏ đều mang theo những câu chuyện đặc biệt, khi đến làng chỉ là một chuyến đi khám phá, nghỉ ngơi, như ai đó ghé thăm lúc “si tình”. Nhưng ngày rời đi, Gò Cỏ lại trở thành một nơi để trở về, “quê ngoại” thân thương có võng bà đưa, có đĩa mực tươi rói, có bát canh chua lưỡi long thơm mát.
Thật khó để kể cho trọn vẹn câu chuyện về Gò Cỏ, về những con người nơi đây bởi ngôi làng bé nhỏ nhưng nhiều tình cảm, nhiều điều đặc biệt quá. Chỉ là mỗi lần về làng, chẳng hiểu sao trái tim tôi lại thiết tha yêu đời hơn. Chắc bởi làng nhỏ nhưng nới ra một thế giới rộng, dạt dào bình yên, tình người và cảnh đẹp say đắm.
