Đề xuất kết nối dữ liệu vận chuyển nông sản từ Đồng bằng sông Cửu Long ra cảng biển
Kết nối dữ liệu giữa các hệ thống sẽ góp phần tối ưu quá trình vận chuyển, chất lượng nông sản tốt hơn khi đến cảng biển.
Cảng biển hiện đại vẫn gặp khó vì dữ liệu thiếu kết nối
Tại phiên thảo luận chuyên đề “Chuỗi giá trị toàn cầu bền vững: Logistics xanh”, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 tại TP.HCM ngày 27/10, ông Cao Hồng Phong, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (Gemalink), cho rằng phát triển logistics xanh không chỉ là đầu tư phương tiện thân thiện môi trường mà còn phải giải quyết tình trạng thiếu kết nối thông tin giữa các bên tham gia vận chuyển hàng hóa.
Ví dụ một doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ cần xuất khẩu 10 container sang Mỹ. Để đưa hàng lên tàu đúng lịch, doanh nghiệp phải phối hợp với nhiều đơn vị, từ nơi cung cấp container rỗng, đơn vị đóng hàng, vận tải nội địa đến cảng biển và hãng tàu. Tuy nhiên nếu thông tin giữa các bên không được cập nhật kịp thời, hàng hóa có thể đã sẵn sàng nhưng chưa có container rỗng. Ngược lại, hàng đã đóng container nhưng không bố trí được phương tiện vận chuyển ra cảng cũng có nguy cơ lỡ chuyến tàu.
“Đầu tư xà lan điện, sử dụng xe điện trong cảng hay lắp đặt điện mặt trời tại kho bãi đều là những giải pháp phục vụ chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, nếu thiếu sự phối hợp và kết nối dữ liệu, hiệu quả logistics vẫn khó được cải thiện”, ông Phong nói.

Tối ưu hóa quá trình vận chuyển nông sản xuất khẩu
Từ những bất cập trong việc phối hợp vận chuyển hàng hóa, ông Cao Hồng Phong đề xuất thí điểm nền tảng kết nối dữ liệu vận chuyển container lạnh từ Đồng bằng sông Cửu Long đến khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải.
Nền tảng này cho phép các bên theo dõi thời điểm container lạnh được đưa đến nơi đóng hàng, tiến độ đóng hàng, nhiệt độ bảo quản, lịch vận chuyển bằng xà lan, thời điểm hàng đến cảng và quá trình thông quan. Doanh nghiệp xuất khẩu, đơn vị vận tải, cảng biển cùng các cơ quan quản lý như hải quan, cơ quan quản lý hàng hải và kiểm dịch cần tham gia để cập nhật, chia sẻ thông tin trong quá trình vận chuyển.
“Việt Nam không nhất thiết phải bắt đầu bằng một hệ thống cộng đồng cảng biển quy mô lớn. Thay vào đó, có thể triển khai từ một chuỗi vận chuyển cụ thể, đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng. Với hàng nông sản cần bảo quản lạnh, việc kết nối dữ liệu về nhiệt độ, tiến độ đóng hàng, lịch xà lan và thời điểm đến cảng sẽ giúp các bên phối hợp trong khâu giao nhận, bảo quản và vận chuyển”, ông Phong nhấn mạnh.
Một vấn đề khác được ông Phong đề cập là khả năng tiếp cận dịch vụ logistics của doanh nghiệp xuất khẩu quy mô nhỏ. Chẳng hạn, một doanh nghiệp nông sản chỉ có lượng hàng bằng nửa container sẽ gặp khó khăn trong việc tổ chức gom hàng, bố trí vận tải và thực hiện thủ tục. Theo ông, các doanh nghiệp lớn cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc chia sẻ nền tảng công nghệ và kết nối dịch vụ. Tại Gemalink, nền tảng Smart Port có cơ chế cấp quyền truy cập miễn phí cho người sử dụng.

Tương tự, ông Trương Tấn Lộc, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Cảng Quốc tế Tân Cảng - Cái Mép (TCIT), cũng đề cập tình trạng thiếu đồng bộ dữ liệu giữa các doanh nghiệp trong chuỗi logistics.
Theo ông, dù nhiều doanh nghiệp cảng biển, vận tải và dịch vụ logistics đã đầu tư số hóa, việc sử dụng những nền tảng công nghệ khác nhau vẫn gây khó khăn cho quá trình kết nối, chia sẻ thông tin.
Từ đó, ông đề xuất Việt Nam cần xây dựng tiêu chuẩn thống nhất về giao dịch điện tử, chứng từ điện tử và các loại thông tin cần chia sẻ giữa những thành phần trong chuỗi cung ứng. Bên cạnh tiêu chuẩn dữ liệu, cần xây dựng bộ tiêu chí thống nhất để xác định cảng xanh, kho hàng xanh và logistics xanh. Cùng với đó, việc đánh giá cần dựa trên các chỉ số cụ thể như lượng phát thải CO₂, hiệu quả sử dụng năng lượng, hiệu suất vận hành và mức độ lãng phí trong quá trình khai thác. “Khi có tiêu chuẩn và phương pháp đo lường thống nhất, doanh nghiệp mới có cơ sở đánh giá kết quả chuyển đổi xanh bằng dữ liệu, thay vì chỉ dựa vào những tuyên bố về môi trường”, ông Lộc cho biết.
Một nhà máy có năng suất cao, sản phẩm tốt nhưng hệ thống logistics phức tạp, thiếu minh bạch hoặc không thể chứng minh lượng phát thải carbon trong chuỗi cung ứng vẫn có thể gặp khó khăn khi tiếp cận thị trường.
Do đó doanh nghiệp cần kết nối dữ liệu giữa sản xuất, vận tải, kho bãi và năng lượng để chủ động kế hoạch giao hàng, kiểm soát chi phí và theo dõi phát thải. Kinh nghiệm từ Singapore cho thấy việc xây dựng các nền tảng chia sẻ dữ liệu giữa cảng biển, doanh nghiệp vận tải và kho bãi có vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng.Bà Ishita Dhamani, Thành viên hợp danh bộ phận Tư vấn, EY Singapore
