Cùng là đũa tre, vì sao hàng Nhật đắt hơn 100 lần hàng Việt?
Trong khi đũa tre Việt Nam chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ, sản phẩm cùng chất liệu của Nhật Bản được bán với giá cao hơn 100 lần nhờ thiết kế và thương hiệu.
Thị trường đũa 23 tỉ USD, đũa tre chiếm 43%
Từ vật dụng quen thuộc trong mỗi bữa ăn, đũa đang trở thành một ngành hàng có quy mô hàng chục tỉ USD, với nhu cầu trải rộng từ gia đình, nhà hàng đến các dịch vụ ăn uống và du lịch.
Theo báo cáo cập nhật tháng 9/2026 của hãng nghiên cứu Business Research Insights, quy mô thị trường đũa toàn cầu ước đạt 23,02 tỉ USD trong năm 2026 và dự báo tăng lên 42,57 tỉ USD vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7,07% mỗi năm.
.jpg)
Báo cáo thống kê thị trường đũa làm từ nhiều chất liệu, gồm tre, gỗ, thép, bạc và nhựa. Trong đó, đũa tre chiếm khoảng 43% thị trường, còn nhu cầu sử dụng trong lĩnh vực thương mại như nhà hàng, dịch vụ ăn uống, khách sạn chiếm khoảng 62%.
Sự phát triển của các chuỗi nhà hàng ẩm thực châu Á, dịch vụ giao đồ ăn và nhu cầu sử dụng sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên đang góp phần mở rộng thị trường. Bên cạnh đũa dùng một lần phục vụ nhà hàng, các dòng đũa sử dụng nhiều lần, có thiết kế riêng và chất lượng hoàn thiện cao cũng được nhiều doanh nghiệp phát triển để phục vụ phân khúc gia dụng, quà tặng.
Đũa tre Nhật bán giá cao, hàng Việt vẫn ở phân khúc phổ thông
Tại Việt Nam, ngành sản xuất đũa có lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu tre và kinh nghiệm chế biến các sản phẩm thủ công. Theo Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA), Việt Nam hiện chiếm khoảng 1,01% thị phần xuất khẩu toàn cầu ở phân nhóm đũa tre thuộc mã HS 4419.12, với giá trị khoảng 3,17 triệu USD mỗi năm.
Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ là những thị trường nhập khẩu đáng chú ý đối với sản phẩm đũa tre Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm vẫn tập trung ở phân khúc phổ thông, dùng một lần hoặc gia công theo đơn đặt hàng, khiến giá trị thu về còn hạn chế. Cụ thể, giá đũa tre, đũa gỗ của Việt Nam hiện có giá từ 25.000 - 50.000 đồng/chục (tương đương 2.500 - 5.000 đồng/đôi)
Trong khi đó, một số thương hiệu nước ngoài đã đưa đũa tre vào phân khúc hàng gia dụng có giá trị cao, nơi người tiêu dùng không chỉ mua một vật dụng để ăn uống mà còn quan tâm đến thiết kế, độ bền và trải nghiệm sử dụng.
Điển hình là Yamachiku, doanh nghiệp chuyên sản xuất đũa tre tại tỉnh Kumamoto (Nhật Bản). Trong một chương trình mua sắm trên kênh Hyundai Home Shopping tại Hàn Quốc vào tháng 7/2026, doanh nghiệp này đã bán hết 140.000 đôi đũa tre chỉ sau 40 phút phát sóng. Đáng chú ý, mỗi đôi đũa của Yamachiku có giá khoảng 1.000 yen, tương đương hơn 165.000 đồng (gấp hơn 100 lần so với sản phẩm phổ thông của Việt Nam).
Sở dĩ sản phẩm của Yamachiku có giá cao, được thị trường chấp nhận bởi doanh nghiệp này tập trung vào những đặc tính khác biệt của đũa tre như trọng lượng nhẹ, độ đàn hồi, phần đầu đũa được gia công nhỏ gọn và cảm giác thuận tiện khi gắp thức ăn. Đặc biệt, trước phiên bán hàng nói trên, Yamachiku đã có khoảng 5 năm kiên trì tiếp cận thị trường Hàn Quốc thông qua đối tác phân phối.
Trường hợp này cho thấy cùng là sản phẩm từ tre, nhưng cách tổ chức sản xuất, hoàn thiện thiết kế, xây dựng thương hiệu và lựa chọn kênh phân phối có thể tạo ra sự khác biệt khổng lồ về giá trị. Đây cũng là bài toán đặt ra với các doanh nghiệp đũa tre và đồ gia dụng thủ công Việt Nam khi muốn bước ra khỏi phân khúc giá thấp.

Muốn bán giá cao, phải đánh trúng thị hiếu khách hàng
Theo ông Nguyễn Lê Thái Hòa, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Hòa Mai, thị trường đũa tre, đũa gỗ vẫn còn nhiều dư địa phát triển, không chỉ ở xuất khẩu mà ngay tại thị trường nội địa.
“Nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm ngày càng cao khiến người tiêu dùng chủ động giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần, chuyển sang ưu tiên các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện với môi trường. Trong xu hướng đó, đũa gỗ và đũa tre trở thành lựa chọn hàng đầu cho căn bếp gia đình lẫn các không gian ẩm thực hiện đại”, ông Hòa nhận định.
Từ thực tế kinh doanh, ông Hòa cho biết doanh số các sản phẩm của công ty trong những tháng đầu năm 2026 tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm trước. Doanh nghiệp kỳ vọng duy trì mức tăng trưởng 15 - 20% trong cả năm.
Dù vậy, theo ông Hòa, nhu cầu tăng không đồng nghĩa doanh nghiệp có thể dễ dàng bán sản phẩm ở mức giá cao. Đối với những mặt hàng quen thuộc như đũa tre, đũa gỗ, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn và thường so sánh trực tiếp về giá. Muốn bước lên phân khúc cao hơn, sản phẩm phải tạo được sự khác biệt rõ ràng về chất lượng, thiết kế và trải nghiệm sử dụng.
Trong đó, chất lượng là yếu tố quan trọng nhất bởi đũa và các dụng cụ nhà bếp tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. “Doanh nghiệp phải kiểm soát nguyên liệu, quy trình xử lý bề mặt, khả năng chống mốc và độ bền của sản phẩm. Đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua lại của khách hàng, thay vì chỉ thu hút người mua bằng mẫu mã ban đầu”, ông Hòa chia sẻ.
Bên cạnh chất lượng, cách tiếp cận thị trường và lựa chọn kênh phân phối đóng vai trò quyết định. Theo ông Hòa, một đôi đũa có thiết kế đẹp, chất liệu tốt nhưng nếu bày bán lẫn lộn với hàng phổ thông sẽ khó thể hiện được giá trị khác biệt. Vì vậy, doanh nghiệp phải chú trọng cách trưng bày, thông tin sản phẩm và lựa chọn kênh phân phối phù hợp với nhóm khách hàng mục tiêu.
Trên thị trường bán lẻ Việt Nam, đũa tre dùng một lần có giá khoảng 10.000 - 25.000 đồng/bịch 30 - 50 đôi, tương đương 200 - 830 đồng/đôi. Các loại đũa sử dụng nhiều lần của thương hiệu Cao Phong, Đức Việt có giá khoảng 15.000 - 20.000 đồng/bó 10 đôi, tương đương 1.500 - 2.000 đồng/đôi.
Đũa tre thủ công vùng Tây Bắc có giá cao hơn khoảng 2 - 3 lần so với các dòng đũa sử dụng nhiều lần phổ thông, tương đương 3.000 - 6.000 đồng/đôi.
Trong khi đó, đũa tre Yamachiku của Nhật Bản bán tại Hàn Quốc có giá khoảng 165.000 đồng/đôi, cao gấp 82 - 110 lần so với đũa sử dụng nhiều lần phổ thông tại Việt Nam và khoảng 28 - 55 lần so với đũa tre thủ công Tây Bắc.
