Nông nghiệp 360

Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Điểm nghẽn không nằm ở công nghệ!

Diễm Chi • 07/02/2026 11:29

Ai cũng biết chuyển đổi số và chuyển đổi xanh ngày nay không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đang trở thành điều kiện bắt buộc. Nhưng rào cản thì đủ đường!

Ngày 6/1/2026, Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam đã tổ chức diễn đàn “Doanh nghiệp đồng hành cùng nhà nông và phát triển bền vững năm 2025”. Phát biểu tại diễn đàn, ông Hồ Xuân Hùng- Chủ tịch Tổng hội khẳng định: “Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi mang tính nền tảng. Từ mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng sản lượng, ngành nông nghiệp buộc phải dịch chuyển sang trục phát triển mới: công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn và thị trường. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đang trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp và hợp tác xã duy trì năng lực cạnh tranh”.

z7456572177447_e0ff6860d381958364009c382e063f85.jpg
Nhiều năm qua, kể từ khi chính thức vận hành, Queen Farm- xã Phước Sơn, tỉnh Đồng Nai (thôn 5 xã Đăng Hà huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước cũ), CEO Nguyễn Thế Tùng đã ứng dụng công nghệ số vào quản lý trang trại của mình. 60 hecta sầu riêng, tất cả cây trồng đều vào hệ thống quản lý, có mã QR, theo dõi sinh trưởng, độ ẩm của đất, độ PH, tình hình sâu bệnh trên lá, trái...

Hành động từ áp lực thị trường

Có thể thấy rõ những điều kiện, áp lực của câu chuyện đổi số, chuyển đổi xanh qua các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu, giảm phát thải và trách nhiệm môi trường lên hầu hết các ngành hàng xuất khẩu.

Những tiêu chí ấy như “vé vào cửa” của nông sản khi tham gia chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Trước áp lực đó, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp đã chủ động đi trước một bước trong chuyển đổi số.

Tại An Giang, doanh nghiệp Tuấn Linh (ấp Lung Lớn, xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương, tình An Giang (tỉnh Kiên Giang- cũ) một doanh nghiệp trồng lúa giống xuất khẩu đã triển khai hệ thống nhật ký sản xuất điện tử cho toàn bộ vùng nguyên liệu trên 500 héc ta.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Giám đốc doanh nghiệp Tuấn Linh, cho biết: “Mỗi thửa ruộng đều được chúng tôi gắn mã định danh, dữ liệu về giống, phân bón, loại thuốc bảo vệ thực vật và thời gian thu hoạch được cập nhật theo thời gian thực tế. Nhờ đó, chúng tôi không chỉ đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường xuất khẩu khó tính như Nhật mà còn giảm đáng kể chi phí kiểm soát chất lượng và rủi ro vi phạm tiêu chuẩn”.

api.nongthonviet.com.vn-media-2025-12-15-_693fa82280d8e150e2347d34_ong_nguyen_thanh_tuan_-thu_2_tu_phai_qua-_cung_nguoi_nong_dan_ben_canh_dong_o_lung_lon_high.jpg
Một góc ở cánh đồng Lung lớn của ông Nguyễn Thanh Tuấn - Ảnh Đoàn Quý

Ở lĩnh vực thủy sản, Shrimp Vet - một doanh nghiệp sẩn xuất tôm tại xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa (thuộc Thôn Hòa Thạnh, xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cũ), từ nhiều năm qua đã ứng dụng hệ thống giám sát môi trường ao nuôi bằng cảm biến IoT, kết nối dữ liệu về độ mặn, pH, oxy hòa tan với phần mềm quản lý trung tâm. Dữ liệu được phân tích để điều chỉnh quy trình nuôi, giảm tỷ lệ hao hụt và tiết kiệm chi phí thức ăn.

Còn tại Lang Biang Farm, một trang trại sản xuất rau của tỉnh Lâm Đồng, thì ứng dụng phần mềm quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc cho toàn bộ sản phẩm cung ứng vào hệ thống siêu thị. Thay vì ghi chép thủ công, các tổ sản xuất sử dụng điện thoại thông minh để cập nhật nhật ký canh tác. Mỗi lô rau xuất bán đều có mã QR, cho phép đối tác phân phối kiểm tra toàn bộ quy trình sản xuất.

Thực tế, không chỉ doanh nghiệp lớn, một số hợp tác xã nông nghiệp cũng đã bắt đầu chuyển đổi số theo cách phù hợp với quy mô của mình. Nhiều hợp tác xã trồng trái cây, hoa kiểng đã đưa thương mại điện tử vào tiêu thụ sản phẩm. Nhờ sử dụng nền tảng bán hàng trực tuyến kết hợp truyền thông số, nhà sản xuất giảm phụ thuộc vào thương lái, từng bước xây dựng thương hiệu và tiếp cận người tiêu dùng cuối.

Từ đây, những mô hình “Cây xoài nhà tôi”, “Cây vú sữa nhà tôi”, “Cây sầu riêng của bạn”… với những cây trồng được tạo riêng mã QR, chăm bón theo xu hướng hữu cơ, minh bạch, rõ ràng đã được mua, bán từ vườn tới tận bàn ăn trên các kênh mạng xã hội.

Rào cản đủ đường!

Theo thống kê, trong hơn 20.000 hợp tác xã nông nghiệp trên cả nước, tỷ lệ hợp tác xã ứng dụng công nghệ số trong sản xuất – kinh doanh mới chỉ đạt khoảng 10–12%. Đó là chưa kể, Việt Nam hiện có hơn 9,1 triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ, chiếm khoảng 49% số hộ nông thôn, phần lớn vẫn sản xuất manh mún, thiếu liên kết và gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, khoa học – công nghệ và thị trường. Câu chuyện chuyển đổi số đã được bao nhiêu % hộ nông dân này chạm tay tới?

Song hành với chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đã triển khai các mô hình sản xuất xanh, theo xu hướng hữu cơ: giảm sử dụng vật tư hóa học, tăng cường chế phẩm sinh học, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn.

Rất nhiều doanh nghiệp chăn nuôi hiện nay đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải kết hợp phát điện sinh khối, vừa giảm ô nhiễm môi trường, vừa tiết kiệm chi phí năng lượng. Một số doanh nghiệp xuất khẩu trái cây đã chuyển sang sử dụng bao bì thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của thị trường cao cấp.

ba kim thoa ban chuyen chuyen doi co
Bà Nguyễn Thị Kim Thoa đang giới thiệu cùng nông dân mạng lưới hỗ trợ cộng đồng, chuyển đổi xanh của Abavina

Tuy nhiên, thực tế lại bày ra lắm khó khăn. Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần sản xuất Thương mại Abavina, xã Trường Long, thành phố Cần Thơ, một chuyên gia phát triển cộng đồng trong lĩnh vực nông nghiệp, nói : “Trong hơn 10 năm theo đuổi kết nối cùng nông dân, tôi nhận thấy phần lớn các hoạt động chuyển đổi xanh hiện nay vẫn thiếu sự hỗ trợ của hệ thống dữ liệu số. Doanh nghiệp “làm xanh” nhưng khó đo lường chính xác mức giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên hay mức độ tuân thủ tiêu chuẩn bền vững. Điều này khiến lợi thế cạnh tranh từ chuyển đổi xanh chưa được phát huy đầy đủ trên thị trường”.

Bà thẳng thắn: “Rào cản đủ đường! Rào cản dữ liệu, rào cản thị trường, rào cản tín dụng xanh, rào cản nhân lực chuyển đổi xanh... Quan trọng nhất là nguồn vốn tín dụng xanh cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ai cũng biết nguồn vốn này không nhỏ, nhưng nông dân đôi khi không có đất, mà chỉ có cây, có con, có công nghệ sản xuất… Lấy gì thế chấp? Lấy gì nhận tín dụng? Cơ chế cho vay chỉ dựa trên căn cứ giá trị đất đã khó, mà đất nông nghiệp thì giá trị được bao nhiêu? Hơn nữa việc thực hiện cơ chế tín dụng hiện nay mỗi nơi 1 kiểu… Tất cả các rào cản đó, nếu không sớm gỡ sẽ luôn nghẽn mạch”.

abavina cung nha nong ban chuyen chuyen doi so
Rất nhiều nhà nông quan tâm câu chuyện chuyển đổi số, cải tiến công nghệ, sản xuất theo xu hướng hữu cơ. Trong ảnh, bà Nguyễn Thị Kim Thoa đang giới thiệu cùng nông dân xã Phụng Hiệp, TP Cần Thơ mô hình sản xuất theo xu hướng hữu cơ và kết nối đầu ra cho sản phẩm trên kênh bán hàng chung của Abavina

Cần một hệ thống chuỗi dữ liệu

“

Câu chuyện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp sẽ mãi mãi không thể thành công nếu chỉ dừng ở các mô hình mang tính “trình diễn” như hiện tại.

Bà Trần Thị Hồng Lan- Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Phát biểu tại diễn đàn này, bà Trần Thị Hồng Lan- Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Tổng hội nói: “Từ thực tiễn triển khai, có thể thấy điểm nghẽn lớn nhất của chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không nằm ở việc thiếu công nghệ hay thiếu mô hình, mà nằm ở cách tổ chức thực hiện. Phần lớn doanh nghiệp và hợp tác xã mới chuyển đổi theo từng khâu riêng lẻ: truy xuất nguồn gốc, nhật ký điện tử, bán hàng trực tuyến. Trong khi đó, chuỗi giá trị từ sản xuất – chế biến – logistics – thị trường chưa được kết nối trong một hệ thống dữ liệu thống nhất".

Theo bà Lan, thì "sự thiếu thống nhất này có thể nhìn thấy rõ mồn một khi mỗi chương trình, mỗi địa phương lại sử dụng một nền tảng số khác nhau, dẫn đến dữ liệu phân tán, khó liên thông. Doanh nghiệp và hợp tác xã nhỏ lúng túng khi lựa chọn giải pháp phù hợp, lo ngại rủi ro đầu tư và thiếu nhân lực vận hành hệ thống số. Đặc biệt, khi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh chưa gắn trực tiếp với hợp đồng tiêu thụ và lợi ích kinh tế cụ thể, rất khó để các mô hình này được duy trì lâu dài”.

***

Câu chuyện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp sẽ mãi mãi không thể thành công nếu chỉ dừng ở các mô hình mang tính “trình diễn” như hiện tại. Nhưng cái khó là không chuyển đổi, số, chuyển đổi xanh, chúng ta lại đứng ngoài thương trường thế giới, không có “cửa” cạnh tranh! Điều cần thiết là một cách tiếp cận hệ sinh thái, trong đó dữ liệu được chuẩn hóa, nền tảng được dùng chung, công nghệ gắn với tiêu chuẩn, hợp đồng và thị trường.

Khi đó, chuyển đổi số không chỉ là công cụ quản lý, mà trở thành đòn bẩy cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Và chỉ khi doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân nhìn thấy lợi ích kinh tế cụ thể, nhà quản lý, hoạch định chính sách tạo cơ chế, trao nguồn vốn, nhà khoa học tiếp sức, chuyển giao công nghệ… quá trình chuyển đổi mới có thể đi từ phong trào sang động lực tăng trưởng thực chất!

    Nổi bật
        Mới nhất
        Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Điểm nghẽn không nằm ở công nghệ!
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO