Câu chuyện nông nghiệp hôm nay

Cánh đồng Việt buộc phải vượt khỏi câu chuyện 'bán gạo ngon'

DIỄM CHI • 02/10/2026 10:45

Ngày 2/10/2026, tại hội thảo 'Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và giải pháp khoa học, công nghệ trong sản xuất lúa phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long', câu chuyện về cây lúa sạch, hạt gạo ngon được khơi lên đầy ấn tượng.

Từ một thửa ruộng, bài toán hiện tại đã vượt ra khỏi câu chuyện làm ra hạt gạo ngon, hay tăng năng suất và giá thành. Đó là làm ra sản phẩm có chất lượng, có dữ liệu, giảm phát thải, tạo giá trị cho môi trường và từng bước tham gia vào một thị trường mới: thị trường carbon.

Đây có lẽ mới là phần khó nhất của quá trình phát triển ngành lúa gạo.

Câu chuyện về hạt gạo ngon thu hút hơn 100 khách mời là các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, người làm lúa và hơn hai trăm sinh viên trường Đại học Cửu Long quan tâm, theo dõi
Câu chuyện về hạt gạo ngon thu hút hơn 100 khách mời là các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, người làm lúa và hơn hai trăm sinh viên trường Đại học Cửu Long quan tâm, theo dõi.

Khen một hạt gạo ngon là chưa nói hết giá trị về hạt gạo

Tại hội thảo, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, đã đặt vấn đề về định hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong phát triển lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL. Ông cho rằng, công nghệ không chỉ nhằm giúp nông dân làm ra nhiều lúa hơn, mà phải giúp họ làm ra một sản phẩm có nhiều giá trị hơn. Đó là một yêu cầu bức thiết, thời sự của ngành nông nghiệp Việt Nam. Nói cách khác, ruộng lúa đang dần trở thành một “hệ thống tạo giá trị”, thay vì chỉ là nơi sản xuất lúa.

1790906503458_1856697560009003710_2925071799762923757_7d4e0615598f06d728427804e28d33c9.jpg
TS. Nguyễn Trí Ngọc- Phó chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam báo cáo đề dẫn tại hội thảo,

Ông dẫn chứng, nếu trước đây một hecta đất được tính chủ yếu bằng sản lượng lúa, thì trong nền sản xuất mới, giá trị của hecta ấy có thể phải được nhìn từ nhiều lớp. Cụ thể, đó là giá trị hạt gạo, giá trị phụ phẩm, hiệu quả sử dụng nước và vật tư, mức giảm phát thải, dữ liệu sản xuất và thậm chí phải được xem xét từ cả khả năng tạo tín chỉ carbon.

Hạt gạo muốn đi xa, cũng không chỉ cần riêng dữ liệu!

Đồng tình với TS. Nguyễn Trí Ngọc, các diễn giả cùng khẳng định, một hạt gạo hôm nay còn mang theo câu chuyện về cách nó được tạo ra.

Nếu trong sản xuất truyền thống, người nông dân chỉ cần biết mình làm được bao nhiêu tấn lúa thì trong nền sản xuất mới, câu hỏi sẽ là: anh đã làm ra số lúa ấy bằng cách nào? Bao nhiêu nước được sử dụng? Bao nhiêu vật tư đầu vào? Quy trình canh tác có thay đổi không? Lượng phát thải giảm được bao nhiêu? Những thay đổi ấy có thể đo lường và kiểm chứng hay không?...

Nhìn vào chuỗi câu hỏi đã thấy rõ, một người nông dân không thể một mình tổ chức cả chuỗi từ giống, vật tư, máy móc, thu hoạch, chế biến đến xuất khẩu. Vì thế, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về bài toán liên kết.

1790905993836_1856697560009003710_2925071799762923757_d35f0f22b57da1fc4114dea9f9ba84c8.jpg
Hội thảo bàn sâu về câu chuyện sản xuất lúa phát thải thấp và những giải pháp tăng thu nhập cho người nông dân.

Thử thách từ 'những thửa ruộng tách rời'

Chia sẻ tại chương trình về đề án "Phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thảo thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2030" TS. Huỳnh Kim Định, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng đã có nhiều tín hiệu đáng mừng.

Song bà vẫn trăn trở: trồng lúa đang là nghề mang lại lợi nhuận thấp nhất trong toàn ngành nông nghiệp. Chính vì vậy, điều khó hơn là biến một mô hình giảm phát thải thành phương thức sản xuất của hàng ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn hộ nông dân.

Giá lúa trên cánh đồng mẫu cao hơn giá thị trường 300 đồng/1kg, Với hơn 7.500ha đang sản xuất gạo đạt tiêu chuẩn an toàn, chất lượng cao với hơn 210 doanh nghiệp, tổ chức tham gia. 100% cơ giới hóa làm đất, bón vùi rơm rạ... TS Huỳnh Kim Định cũng nhận định rõ ràng, 1 triệu ha không thể vận hành trên những thửa ruộng tách rời. Nó cần sự hợp lực, cần các hợp tác xã hoạt động thật và hiệu quả. Đây cũng là một thách thức không nhỏ bởi ngoài năng lực của Hợp tác xã còn phải tính câu chuyện rủi ro, công lao động, giá cả hạt gạo nơi cuối chuỗi...

Rõ ràng, đây mới là bài toán quyết định chuyển đổi xanh có thực sự đi vào đời sống hay chỉ dừng ở những mô hình đẹp trên giấy.

Khi cây lúa bước vào một cuộc chơi mới

PGS.TS. Nguyễn Kim Quyên, Trường Đại học Cửu Long, đưa đến hội thảo một góc nhìn khác từ cơ sở đào tạo và nghiên cứu thông qua chương trình sản xuất lúa phát thải thấp khu vực ĐBSCL của trường. Điều này cho thấy một mắt xích quan trọng khác của quá trình chuyển đổi: khoa học không thể chỉ nằm trong phòng thí nghiệm. Bởi công nghệ phải đi xuống ruộng, lấy kết quả từ ruộng đồng. Nhưng chiều ngược lại cũng rất quan trọng: những vấn đề từ đồng ruộng phải quay trở lại với trường đại học, viện nghiên cứu để tiếp tục được giải quyết bằng tri thức mới.

Những con số đáng suy ngẫm trích từ báo cáo của ông Lê Thanh Tùng - Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam về tiến độ thực hiện đề án 1 triệu hecta
Những con số đáng suy ngẫm trích từ báo cáo của ông Lê Thanh Tùng - Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam về tiến độ thực hiện đề án 1 triệu hecta.

Trong khi đó, việc tham vấn áp dụng tiêu chuẩn VietFarm đối với trồng trọt phát thải thấp và khả năng áp dụng vào sản xuất lúa tại ĐBSCL, do PGS.TS Mai Quang Vinh, Viện Công nghệ Xanh, trình bày, cho thấy sản xuất lúa đang đứng trước yêu cầu chuẩn hóa ngày càng rõ. Ông khẳng định, hạt gạo là sản phẩm cuối cùng, nhưng phía sau hạt gạo là cả một hệ thống tiêu chuẩn, dữ liệu, công nghệ, môi trường và thị trường.

Theo ông, Việt Nam có thể sản xuất ra những hạt gạo ngon hơn, nhưng nếu chỉ bán gạo theo cách cũ thì phần giá trị tăng thêm vẫn rất hạn chế. Ông ví dụ rõ ràng: Vụ hè thu 2025, ghi nhận 354.839ha tham gia vào đề án 1 triệu ha giảm phát thải ở ĐBSCL thì chi phí sản xuất đã giảm 1.7 - 4.9 triệu đồng/ha; lượng giống giảm 50 - 60%, phân đạm giảm trung bình 31,3% giảm 1 - 3 lần phun thuốc và tăng cường tưới ngập khô xen kẽ (kỹ thuật AWD- Alternate Wetting and Drying). Riêng vụ Đông Xuân vừa qua, cánh đồng lớn này mức giảm phát thải được báo cáo đạt khoảng 3,7tCo2/ha/vụ.

Các chuyên gia cùng nhất trí, chuyển đổi xanh tạo ra sự thay đổi trên đồng ruộng còn chuyển đổi số giúp ghi nhận, quản lý và chứng minh sự thay đổi đó. Trong đó, khoa học và công nghệ tạo ra giải pháp, hợp tác xã tổ chức nông dân, doanh nghiệp kết nối thị trường, cơ quan quản lý tạo hành lang chính sách. Còn người nông dân là người thực hiện sự thay đổi ngay trên từng thửa ruộng. Nếu thiếu một mắt xích, chuỗi giá trị rất dễ đứt.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Cánh đồng Việt buộc phải vượt khỏi câu chuyện 'bán gạo ngon'
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO