Bán lẻ đua nhau mở rộng về nông thôn | Bài cuối: Hướng tới hệ sinh thái bền vững
Các chuỗi bán lẻ mở rộng về nông thôn tạo thêm cơ hội cho hàng bản địa tiếp cận người tiêu dùng. Tuy nhiên, từ một sản phẩm tốt đến khi đứng được trên quầy kệ vẫn còn nhiều cửa phải vượt qua.
Sản phẩm tốt chưa đủ để đứng vững trong kênh bán lẻ hiện đại
Nước mắm cá cơm, rượu nho, mứt rong sụn, nho sấy vỏ quýt, táo sấy… là những sản phẩm Công ty TNHH Xứ Phan nhiều lần mang đi ‘chào hàng’ các hệ thống phân phối tại các siêu thị bán lẻ hiện đại.
Thế nhưng đến nay, theo bà Trần Gia Minh Châu, Giám đốc Hộ kinh doanh Xứ Phan (tỉnh Khánh Hòa), nhiều sản phẩm của doanh nghiệp vẫn chưa thể bước vào siêu thị.

Điều đáng nói, không ít sản phẩm đã được công nhận OCOP 3-4 sao. Doanh nghiệp cũng đã nhiều lần làm việc, tiếp xúc với các hệ thống phân phối để tìm đầu ra. Tuy nhiên, khi đi sâu vào các điều kiện để trở thành nhà cung cấp, khoảng cách bắt đầu xuất hiện.
Lấy ví dụ chai nước mắm cá cơm Xứ Phan loại thượng hạng, bà cho biết mức giá 1 lít khoảng 200.000 đồng, cao hơn khoảng 20% so với một số sản phẩm cùng nhóm đang bán trên thị trường. Bên cạnh đó do quy mô còn nhỏ, doanh nghiệp khó đáp ứng ngay những đơn hàng lớn, đều đặn và kéo dài theo yêu cầu của hệ thống.

Cũng giống Xứ Phan, Công ty TNHH TMDV Hồng Thịnh Phát từng nhiều lần tìm cách đưa các sản phẩm rau ăn lá vào hệ thống Co.opmart, Bách Hóa Xanh.
Trong lần chào hàng gần nhất vào cuối năm ngoái, doanh nghiệp được đề nghị trở thành đối tác sản xuất hàng nhãn riêng cho siêu thị. Tuy nhiên, để tham gia, doanh nghiệp phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu như diện tích vùng trồng tối thiểu, chứng nhận VietGAP hoặc GlobalGAP, quy chuẩn về bao bì, nhãn mác và các điều kiện liên quan đến sản xuất, cung ứng.
“Với quy mô hiện tại, các khoản đầu tư này tạo áp lực khá lớn”, đại diện Hồng Thịnh Phát chia sẻ.
Sau nhiều lần không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu, doanh nghiệp này đã dừng kế hoạch đưa hàng vào siêu thị và quay lại tiêu thụ chủ yếu qua chợ truyền thống.

Còn với Hợp tác xã cây ăn quả Tân Mỹ, dù đã đưa bưởi vào siêu thị song vẫn chật vật. Ông Lê Minh Sang, Giám đốc Hợp tác xã, cho biết lượng tiêu thụ qua siêu thị hiện chỉ vài trăm kg/tháng. “Là nông sản mùa vụ, bưởi không thể tồn kho lâu; nếu bán chậm chúng tôi buộc phải xoay xở đưa ra chợ, hoặc tìm hướng xuất khẩu để tránh hư hỏng”, ông nói.
Lý giải việc nhiều nông sản, sản phẩm OCOP vào siêu thị, đại diện Emart Việt Nam thẳng thắn chỉ ra, đưa hàng vào siêu thị không dừng ở việc đạt tiêu chí ban đầu. Nếu không duy trì chất lượng, hoặc sản phẩm không hợp thị hiếu, hệ thống buộc phải loại bỏ để thay thế nhà cung cấp khác.
“Đội ngũ thu mua của chúng tôi phải đến trực tiếp các vùng trồng lớn như Đà Lạt để rà soát quy chuẩn, hồ sơ và điều kiện sản xuất. Ngay cả khi hàng đã lên kệ, chúng tôi vẫn thường xuyên hậu kiểm tại cơ sở để đảm bảo các điều kiện ban đầu không bị buông lỏng,” đại diện Emart chia sẻ.

Đồng quan điểm, đại diện MM Mega Market Việt Nam cho biết, hệ thống ưu tiên nông sản, sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, sản phẩm có câu chuyện gắn với văn hóa bản địa. Tuy nhiên, để trở thành nhà cung cấp cho hệ thống, sản phẩm vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm, hồ sơ công bố chất lượng, kiểm nghiệm định kỳ và truy xuất nguồn gốc.
“Nhà cung cấp cũng phải chứng minh năng lực sản xuất ổn định về số lượng, chất lượng, khả năng giao hàng liên tục và tuân thủ các quy định trong quá trình vận hành”, đại diện MM Mega Market Việt Nam thông tin.
Linh hoạt hỗ trợ, hướng tới hệ sinh thái bền vững
Để khắc phục những tồn tại trên, ông Nguyễn Anh Đức, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, đề xuất tăng liên kết giữa các vùng trồng, làng nghề hoặc những khu vực cùng sản xuất một nhóm sản phẩm.
“Khi các vùng sản xuất được kết nối, quy mô và sản lượng hàng hóa mới có thể tăng lên. Từ đó tạo điều kiện để sản phẩm địa phương không chỉ xuất hiện tại các tuần lễ nông sản, sản phẩm OCOP hay những đợt kết nối cung cầu ngắn hạn mà có khả năng trở thành nguồn cung thường xuyên cho hệ thống phân phối”, ông nhận định.
Ngoài ra, theo ông, việc hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã cũng cần đi thẳng vào những điểm yếu cụ thể về quy mô, sản lượng, khả năng đa dạng hóa sản phẩm, cùng các giải pháp về vốn, công nghệ và đầu ra.
Trước yêu cầu trên, một số nhà bán lẻ đang chuyển từ vai trò “mua hàng” sang tham gia sâu hơn vào quá trình nâng năng lực cho nhà cung cấp địa phương.

Đơn cử như Saigon Co.op. Đơn vị này cho biết, đang tìm cách tháo gỡ bài toán vốn cho nhà sản xuất. Gần đây, Saigon Co.op và Agribank đã ký thỏa thuận hợp tác, hướng tới hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong chuỗi tiếp cận vốn, mở rộng sản xuất và tìm đầu ra ổn định.
Theo thỏa thuận, Agribank cung ứng nguồn vốn, dịch vụ tài chính và các giải pháp thanh toán; Saigon Co.op đảm nhận vai trò đầu ra thông qua mạng lưới phân phối. Qua đó, nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất sạch và các chủ thể OCOP có thêm điều kiện tiếp cận vốn để mở rộng quy mô, đồng thời có cơ hội đưa hàng vào hệ thống bán lẻ.

Ông Vũ Anh Khoa, Chủ tịch HĐQT Saigon Co.op, cho biết việc hợp tác với Agribank được kỳ vọng bổ sung nguồn lực tài chính, đồng thời tạo thêm điều kiện để Saigon Co.op mở rộng năng lực phân phối hàng Việt, sản phẩm OCOP và đặc sản vùng miền.
Với AEON Việt Nam, bà Eto Etsuko, Giám đốc Cấp cao Kế hoạch doanh nghiệp AEON Việt Nam, cho biết, doanh nghiệp này sẽ phối hợp cùng hợp tác xã và cơ sở sản xuất tại địa phương nâng cao các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững.
Theo bà, khi đáp ứng được những yêu cầu này, nhà cung cấp địa phương sẽ có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối hiện đại, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khu vực nông thôn hiện có hai nhóm sản phẩm khá rõ. Một nhóm đã được chuẩn hóa, có khả năng tiếp cận hệ thống phân phối trong nước, thậm chí hướng tới xuất khẩu. Nhóm còn lại chủ yếu do các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, đầu ra vẫn phụ thuộc nhiều vào thương lái nên khó tiếp cận các kênh phân phối hiện đại.
Khi các hệ thống bán lẻ mở rộng về nông thôn, cần tạo điều kiện để nông sản, đặc sản và sản phẩm bản địa được đưa vào hệ thống, sau đó phân phối tới những khu vực khác. Nhiều hệ thống bán lẻ lớn trên thế giới như Walmart đã có chính sách ưu tiên hàng địa phương. Cách làm này vừa mở thêm đầu ra cho người sản xuất, vừa giúp hàng hóa lưu chuyển tốt hơn giữa các vùng.
