Bản Bướt: Khi thiên nhiên hồi sinh từ ruộng sinh thái
Nằm ẩn mình giữa đại ngàn Vân Hồ, Bản Bướt hôm nay không chỉ khoác lên mình màu xanh bạt ngàn của cây trái, mà còn ngân vang khúc ca hồi sinh trù phú. Từng là một bản làng chìm trong gian khó, không điện lưới, không sóng điện thoại, không wifi, Bản Bướt giờ đây trở thành điểm sáng về phát triển kinh tế bền vững nhờ mô hình độc đáo: “Làng nông nghiệp di sản”.

Tuy không xa xôi, nhưng con đường vào Bản Bướt, nay thuộc bản Hợp Thành, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La, giống như một phép thử đối với bất kỳ ai lần đầu đặt chân tới nơi đây.
Từ quốc lộ 6, chiếc xe 29 chỗ chở đoàn nhà báo phải dừng lại để chuyển sang xe con bởi con đường vào bản quá hẹp. Đến đầu bản, xe lại phải dừng trước một cây cầu nhỏ bắc qua suối. Hành lý được chuyển xuống, mọi người đi bộ qua cầu rồi tiếp tục lên chiếc xe công nông đầu dọc để tiến sâu vào bản.
Gian nan làm đồng ruộng sống lại
Phần thưởng cho hành trình ấy là khung cảnh khiến bất cứ ai cũng phải ngỡ ngàng. Trước mắt chúng tôi là một cánh đồng lúa nước rộng mở như một lòng chảo khổng lồ, bốn bề được núi rừng bao bọc. Chỉ có một lối ra vào duy nhất khiến Bản Bướt gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Chính sự biệt lập ấy đã góp phần gìn giữ cho nơi đây một hệ sinh thái phong phú với suối cá, rừng tự nhiên cùng nhiều loài động thực vật bản địa.

Năm 2021 đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với Bản Bướt, khi Hợp tác xã Đồng Rừng được thành lập và người dân bắt đầu tham gia dự án GREAT do Australia tài trợ để chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ. Ông Hà Văn Nguy, Giám đốc Hợp tác xã Đồng Rừng, cho biết những ngày đầu chuyển đổi không hề dễ dàng. Ban đầu, mô hình được áp dụng trên cây lúa và đậu tương, sau đó mới mở rộng sang đậu đen, lạc đỏ, lạc địa phương và nhiều loại rau màu khác. Đến năm 2024, vùng sản xuất của hợp tác xã đã được chứng nhận theo tiêu chuẩn PGS.
Tuy nhiên, trước khi có được kết quả đó, người dân đã trải qua giai đoạn đầy thử thách. Hai năm đầu tiên là khoảng thời gian khó khăn nhất. Do chưa chủ động được nguồn vật tư đầu vào, bà con phải mua phân hữu cơ từ bên ngoài với chi phí khá cao. Sau nhiều lớp tập huấn, người dân mới dần biết tận dụng rơm rạ, phân chuồng để tự ủ phân và chăn nuôi lợn bản địa nhằm tạo nguồn phân bón cho đồng ruộng.
Khó khăn lớn hơn đến từ năng suất cây trồng. Khi không còn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, sâu bệnh xuất hiện nhiều hơn khiến năng suất giảm mạnh. Một thửa ruộng khoảng 300m² trước đây có thể thu được 6-7 tạ lúa thì trong giai đoạn đầu chuyển đổi chỉ còn khoảng 3-4 tạ. Nhiều hộ dân từng nản chí, thậm chí có ý định từ bỏ mô hình.

Nhưng cũng chính trong khoảng thời gian ấy, những tín hiệu tích cực đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Sau khoảng hai năm kiên trì, đất đai dần trở nên màu mỡ hơn. Cây trồng khỏe hơn và hệ sinh thái đồng ruộng bắt đầu hồi phục. Ông Nguy kể rằng những loài sinh vật từng biến mất trong nhiều năm đã quay trở lại. Trên đồng ruộng xuất hiện nhiều hơn những đàn chuồn chuồn, nhện, châu chấu và các loài thiên địch khác. Dưới các mương nước và khe suối, nhiều sinh vật thủy sinh cũng bắt đầu xuất hiện trở lại.
Thuốc bảo vệ thực vật hóa học được thay thế bằng các chế phẩm từ thảo mộc. Người dân không còn vứt bỏ bao bì thuốc hay rửa bình phun xuống suối như trước. Chất lượng nguồn nước được cải thiện rõ rệt. Khi môi trường thay đổi, các loài tôm, cua, ốc và cá suối cũng dần phục hồi.

Một trong những thành quả rõ nét nhất là việc khôi phục thành công các giống lúa bản địa từng đứng trước nguy cơ mai một như Tẻ râu (khẩu râu), nếp Tan và nếp Tím. Dù năng suất lúa hữu cơ chỉ bằng khoảng một nửa so với trước đây, giá bán lại cao hơn khoảng ba lần. Đặc biệt, giống lúa khẩu râu luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. Sản xuất đến đâu được tiêu thụ hết đến đó. Các doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết không chỉ cung cấp giống, vật tư mà còn hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ sản phẩm sau thu hoạch. Nhờ vậy, người dân yên tâm duy trì mô hình và tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất.
Dòng suối của những đàn cá không biết sợ người
Nếu những cánh đồng hữu cơ là minh chứng cho sự hồi sinh của đất đai, thì suối cá Bản Bướt lại là biểu tượng rõ nét nhất cho sự phục hồi của cả hệ sinh thái.
Ít ai biết rằng từ năm 2014, trước cả khi bắt đầu sản xuất hữu cơ, cộng đồng nơi đây đã xây dựng hương ước bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Các hình thức khai thác tận diệt bị nghiêm cấm. Khu vực từ đầu nguồn xuống cánh đồng không được phép câu cá, đặt bẫy hay quăng chài.

Nhờ sự đồng thuận của cộng đồng, nhiều loài cá bản địa như Pa Mốn, Pa Trạt vẫn duy trì được quần thể tự nhiên và sinh sôi qua nhiều thế hệ. Dẫn chúng tôi đi dọc suối cá, bà Hà Thị Hiếm, Trưởng nhóm Hướng dẫn viên Hợp tác xã Đồng rừng cho biết vào những ngày trời trong, nước suối có thể nhìn thấy tận đáy. Hàng trăm con cá bơi lội thành từng đàn ngay trước mắt du khách. Điều đặc biệt là chúng gần như không tỏ ra sợ hãi khi có người đến gần. Từ một biện pháp bảo tồn đơn thuần, suối cá dần trở thành điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách. Đây cũng là minh chứng rõ ràng cho thấy khi cộng đồng cùng chung tay bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên có thể tự phục hồi.

Lần đầu xuất hiện homestay
Khi hệ sinh thái được phục hồi, những cơ hội sinh kế mới cũng dần hình thành. Từ nền tảng sản xuất hữu cơ và nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo tồn, người dân Bản Bướt bắt đầu phát triển du lịch cộng đồng. Du khách đến đây không chỉ nghỉ ngơi giữa không gian núi rừng yên bình mà còn có thể tham gia sản xuất nông nghiệp, khám phá rừng, tìm hiểu cây dược liệu và trải nghiệm đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Thái.
Hợp tác xã Đồng Rừng hiện có 10 thành viên, hoạt động theo mô hình kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch. Nguồn thu không chỉ đến từ sản xuất nông sản mà còn từ dịch vụ ăn uống, lưu trú và các hoạt động trải nghiệm dành cho du khách. Hiện tại, toàn bản có 3 hộ gia đình làm du lịch cộng đồng với các homestay dựng theo kiến trúc nhà sàn truyền thống.

Đoàn nhà báo chúng tôi có một đêm nghỉ tại Homestay Vân Hồ Agritage, cũng là một cơ ngơi của của Hợp tác xã Đồng Rừng.
Không wifi, không sóng điện thoại, 3G cũng “câm bặt”. Trong một đêm, cảm giác như chúng tôi hoàn toàn tách khỏi thế giới bên ngoài. Nhưng đổi lại là một không gian xanh mướt trên quả đồi với cây cối dày đặc. Khu lưu trú Agritage Hill (mà dân bản vẫn gọi bằng cái tên thân thương là Nhà Đồi) thuộc quản lý của Hợp tác xã Đồng Rừng. Với diện tích hơn 1ha, nơi đây sở hữu căn nhà sàn cộng đồng rộng 80m² có thể phục vụ tối đa 30 khách/ngày, cùng hệ thống bungalow dành cho những ai tìm kiếm khoảng không gian riêng tư. Trung bình mỗi tháng, homestay này mang về khoảng 30 triệu đồng lợi nhuận, đồng thời tạo việc làm ổn định cho 10 lao động địa phương với mức thu nhập 5 triệu đồng/tháng.
Kỳ lạ đàn lợn rừng tự kiếm ăn, tự về chuồng. Sáng hôm sau, anh Hà Văn Nguy bảo chúng tôi cứ đi theo con chó của gia đình. Nó sẽ dẫn đường tới khu chuồng nuôi lợn. Con chó chạy trước, men theo con suối vào rừng. Đoạn đường chưa đầy 2 km nhưng chẳng khác gì một cuộc thử sức. Một bên là vách đá trơn trượt, bên kia là khe suối sâu. Trời mưa khiến những phiến đá càng trơn, chỉ cần sơ sẩy là có thể ngã xuống.
Sau gần 2km trèo đèo, lội suối, chúng tôi mới tới khu chuồng nuôi lợn. Trước mắt là một ngôi nhà gỗ xiêu vẹo, hai mặt không có vách ngăn, cũng chẳng có cánh cửa. Điều bất ngờ hơn cả là bên trong không có lấy một con lợn.

Sau quãng đường nhọc nhằn, tôi thoáng thất vọng, tự hỏi chẳng lẽ chuyến đi này chỉ để ngắm một chiếc chuồng lợn trống không?
Anh Nguy đi sau đoàn một khoảng nên một lúc sau mới tới nơi. Tôi nói muốn chụp ảnh đàn lợn. Anh chỉ cười và bảo cứ chờ một lát. Khoảng năm phút sau, từ sườn núi rậm rạp cây cỏ, con chó nhà anh Nguy lững thững đi xuống.

Phía sau nó, một đàn lợn rừng cũng lần lượt xuất hiện. Con lông đen, con màu nâu, con lớn, con nhỏ nối đuôi nhau từ trên núi trở về, tự nhiên như thể nơi này vốn là nhà của chúng. Anh Nguy cho biết ban ngày đàn lợn tự đi vào rừng, leo lên núi kiếm ăn. Đến chiều tối, chúng lại tự xuống núi, tìm về chuồng ngủ qua đêm.
Không cần người chăn dắt. Cũng chẳng cần ai mở cửa đón về, bởi chiếc chuồng giữa rừng vốn không có cửa. Lợn thích đi đâu thì đi, đến giờ lại tự tìm đường về.

Nuôi mà không nuôi
Cách nuôi lợn của gia đình anh Nguy vì thế cũng đặc biệt. Những hôm cần bắt lợn bán, anh chỉ đứng dưới chân núi gọi vài tiếng “hít, hít”. Đàn lợn nghe tiếng quen liền chạy xuống. Lợn nái có chửa cũng tự lên rừng đẻ. Khi lợn con cứng cáp, lợn mẹ lại dẫn đàn con trở về chuồng. Nhờ vậy, gia đình anh gần như không phải bỏ tiền mua lợn giống, chỉ trừ lứa đầu.
Chỉ những ngày mưa gió, đàn lợn không thể lên rừng kiếm ăn, anh mới nấu cám gạo cho chúng. Còn bình thường, mỗi tuần anh chỉ vào thăm đàn lợn một lần. Không phải đàn lợn không cần chăm sóc, mà bởi đường vào khu chuồng quá hiểm trở. Chính sự hiểm trở ấy lại trở thành một “hàng rào” bảo vệ đàn lợn. Chuồng nằm giữa bốn bề núi đá, chỉ có duy nhất một lối vào. Người lạ muốn tìm đến đã khó, chuyện trộm lợn lại càng khó hơn.
Đặc biệt, đàn lợn còn có một “người gác rừng” rất đặc biệt: con chó nhà anh Nguy. Nó thường xuyên theo đàn lợn vào rừng rồi trở về chuồng cùng chúng. Theo anh Nguy, con chó hiểu tiếng người và dường như cũng hiểu công việc của mình. Nếu buổi tối phát hiện đàn lợn thiếu một con, nó sẽ trở về tìm anh, làm những động tác như muốn báo hiệu cho chủ biết có chuyện bất thường.
Giữa núi rừng Bản Bướt, đàn lợn cứ thế sống theo cách của riêng chúng: ban ngày tự tìm thức ăn giữa rừng, chiều tối tự trở về, lợn mẹ tự sinh con, còn một chú chó trở thành người trông đàn bất đắc dĩ. Một mô hình chăn nuôi gần như không cần người chăn giữ, được hình thành từ chính địa hình hiểm trở và nhịp sống tự nhiên của núi rừng.
Theo anh Nguy, đàn lợn ban đầu chỉ được mua giống, sau đó tự sinh sản và phát triển đàn. Đến nay, số lượng đã lên hơn 30 con. Mỗi khi có khách đặt mua, việc đưa lợn ra khỏi rừng lại trở thành một công việc không dễ dàng. Đường vào không thể sử dụng ô tô, xe máy hay thậm chí xe đạp để vận chuyển lợn. Vợ chồng anh phải vác từng con lợn trên vai đưa ra bản.

Lợn rừng được khách mua với giá khoảng 200.000-220.000 đồng/kg. Mỗi con nặng khoảng 6-15 kg, có thể bán được 1,5-3 triệu đồng. Giá trị của đàn lợn vì thế không chỉ nằm ở số tiền thu được từ mỗi con vật. Mô hình này còn cho thấy cách người dân tận dụng điều kiện tự nhiên để giảm chi phí chăn nuôi, bảo tồn giống vật nuôi bản địa và tạo sinh kế từ chính hệ sinh thái mà họ đang gìn giữ.
Giữa thung lũng được núi rừng bao bọc, đàn lợn vẫn ngày ngày lên núi kiếm ăn, chiều tối trở về chiếc chuồng không cửa. Một nhịp sống tưởng như giản đơn, nhưng phía sau đó là câu chuyện về cách một cộng đồng đang từng bước tìm lại sự cân bằng giữa sản xuất nông nghiệp, sinh kế và hệ sinh thái.
Khơi lại dòng chảy di sản nông lâm nghiệp
Câu chuyện hồi sinh nơi đây gắn liền với tâm huyết của chị Đinh Thị Huyền.
Thành lập Trung tâm Hợp tác Phát triển Tây Bắc (TABA) từ năm 2011 để đồng hành cùng đồng bào vùng cao, đến năm 2017, chị tiếp tục sáng lập Doanh nghiệp xã hội Agritage Việt Nam nhằm thúc đẩy sinh kế bền vững.

Bước ngoặt lớn đến vào năm 2019 khi dự án GREAT của Đại sứ quán Australia chính thức tài trợ, giúp TABA và Agritage đặt những gạch đá đầu tiên kiến tạo mô hình “Làng nông nghiệp di sản” tại Bản Bướt.
Chị Huyền chia sẻ, mô hình này được vun đắp từ 5 giá trị cốt lõi: Sinh kế bền vững; Đa dạng sinh học; Bảo tồn tri thức bản địa; Tăng cường liên kết cộng đồng; Gìn giữ văn hóa địa phương.
Trong hai năm đầu tiên, dự án dồn sức phục hồi giống lúa tẻ râu (khẩu râu) truyền thống của người Thái vốn đang đứng trước nguy cơ mai một. Việc gây dựng lại vùng nguyên liệu và phát huy kinh nghiệm canh tác bản địa, đã tạo nền móng vững chắc cho hướng đi nông nghiệp sinh thái gắn liền với bảo tồn văn hóa.

Song hành cùng Agritage, Công ty Cổ phần Sinh thái Ruộng Rươi (RUECO) và doanh nghiệp Kim Sơn Farm đã hợp lực cùng dân bản cải tạo lại nguồn đất canh tác. Bà Phạm Thị Kiều Oanh, Giám đốc RUECO, đã quyết định rời thành phố Cảng Hải Phòng lên Vân Hồ để hợp tác bao tiêu sản phẩm cho bà con.
Nhớ lại những ngày đầu đặt chân đến Bản Bướt vào năm 2019, bà Oanh không khỏi xúc động. Lúc ấy, bản nhỏ vẫn hoàn toàn “trắng” điện lưới quốc gia lẫn sóng wifi. Hành trình chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ muôn vàn gian truân bởi diện tích đất dốc, cằn cỗi và bị xói mòn nghiêm trọng.
Thế nhưng, sau hai năm kiên trì phủ xanh với hơn 1.000 cây trồng cùng việc đa dạng hóa tầng tán, lớp đất cằn cỗi ngày nào đã dần hồi sinh dinh dưỡng. Sự xuất hiện trở lại của những chú giun đất dưới lòng đất mẹ chính là "quả ngọt" đánh dấu sự hồi sinh kỳ diệu của hệ sinh thái nơi đây.

Ông Vì Văn Phúc, Trưởng bản Hợp Thành, cho hay trước tháng 7/2025, Bản Bướt là một bản độc lập thuộc xã Chiềng Yên với 58 hộ và 253 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Thái. Đời sống bà con vốn còn nhiều chật vật. Từ năm 2019, sự đổi thay bắt đầu hiện hữu khi bản được đầu tư tuyến đường bê tông dài hơn 12 km nối từ Quốc lộ 6 qua bản đến trung tâm xã. Cùng với đó là hệ thống điện lưới quốc gia được kéo về tận nhà, kết hợp với các chính sách hỗ trợ vốn, cây giống và hướng dẫn mô hình kinh tế hiệu quả. Đời sống người dân từ đó từng bước đi vào ổn định.
Đến tháng 7/2025, một trang mới lại mở ra khi Bản Bướt sáp nhập với Bản Cò Bá thành bản Hợp Thành thuộc xã Vân Hồ. Bản mới hiện có 163 hộ với 618 nhân khẩu, vẫn chủ yếu là đồng bào Thái. Dù kinh tế gia đình vẫn gắn bó với ruộng nương cùng sản lượng cây trồng ước đạt trên 130 tấn/năm, nhưng tư duy và phương thức canh tác của bà con thì đã thay đổi hoàn toàn.

Giờ đây, khoảng 80% số hộ dân trong bản nói "không" với hóa chất nông nghiệp. Mọi người cùng họp bàn thống nhất lịch thời vụ, ưu tiên dùng phân chuồng và phân hữu cơ để bảo vệ nguồn nước lẫn đất đai.

Sự kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp sinh thái, bảo tồn văn hóa và cảnh quan tự nhiên đã trở thành bệ phóng đưa du lịch cộng đồng tại Bản Bướt phát triển. Du khách ghé thăm không chỉ để thưởng ngoạn không gian yên bình, mà còn được tự tay trải nghiệm tập quán canh tác truyền thống độc đáo của người Thái.
Ông Vì Văn Phúc khẳng định, du lịch không chỉ làm thay đổi diện mạo bản làng và nâng cao thu nhập cho bà con, mà quan trọng hơn cả là tạo động lực để cả cộng đồng cùng chung tay bảo vệ rừng, giữ gìn nguồn nước, suối cá cùng hệ sinh thái tự nhiên.
