1.000 tấn lươn tồn đọng ở Cà Mau: bẻ gãy vòng luẩn quẩn từ đâu?
Sau dưa hấu, thanh long rồi thịt heo… hai chữ "giải cứu" lại trở thành cụm từ thời sự ở đồng bằng. Lần này, cuộc khủng hoảng gọi tên con lươn thương phẩm tại Cà Mau.

Hơn 1.000 tấn lươn kẹt lại dưới bể không chỉ là câu chuyện của một vụ mùa quá lứa. Mà nó lột trần một sự thật cũ kỹ: vết xe đổ của con ếch, con cá tra năm nào đang lặp lại! Từ đó, phơi bày một thứ rủi ro mang tính hệ thống. Như một "mã gen" bám riết lấy số phận thủy sản vùng sông nước.
"Cơn lốc" lươn và... thế độc đạo
Theo rà soát từ ngành thủy sản Cà Mau, lượng lươn tồn đọng trong dân tại Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Mỹ đã vượt ngưỡng 1.000 tấn. Tất cả đều đã bước vào giai đoạn quá lứa, nặng tới vài ba lạng (quy cách 2-4 con/kg) – kích cỡ vốn rất khó trôi trên thị trường nội địa.
Khi nguồn cung bão hòa, giá sụt một mạch xuống còn 38.000 đến 42.000 đồng/kg. Đồng nghĩa lươn mất đi gần một nửa giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Tại xã Hồng Dân, nhiều hộ nuôi đang ngậm ngùi. Từ đầu năm 2026 đến nay thỉnh thoảng mới có thương lái ghé qua,. Nhưng giá họ đưa ra chỉ đủ để người nuôi nhìn vào mà xót xa. Bán thì lỗ nặng, giữ lại thì không còn vốn để duy trì tiền cám cho vụ sau.
Nhìn rộng ra, đây là kịch bản quá đỗi quen thuộc. Cơn sốt giá giai đoạn 2023-2025 đã kích thích cơn lốc mở rộng diện tích tự phát. Từ Cà Mau cho đến Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, nhìn đâu cũng thấy nuôi. Đến khi việc tiêu thụ chững lại, rồi thiếu vắng các hợp đồng bao tiêu dài hạn với doanh nghiệp lớn, thì lươn... tuột tay. Người nông dân vào thế độc đạo: phó mặc hoàn toàn cho mạng lưới thương lái nhỏ lẻ và những cuộc ngã giá may rủi.
Lươn trơn nhưng... khó nuốt
Nghề nuôi lươn không bùn trong bể xi măng từng được xem là một cuộc cách mạng nhỏ ở nông thôn miền Tây từ năm 2020. Kỹ thuật đơn giản, không đòi hỏi diện tích lớn. Thế nhưng, chính cái sự "dễ" ấy lại là một cái bẫy. Khi một mô hình không có rào cản kỹ thuật hay công nghệ, bất kỳ ai cũng có thể sao chép. Người nông dân ra thả giống dựa trên ánh hào quang của mức giá cũ, và cứ nuôi. Họ không biết rằng tổng sản lượng thực tế đang âm thầm phình to trên toàn vùng.

Sự lệch pha về thông tin ấy dẫn đến hệ lụy oái oăm về quy cách sản phẩm. Người nuôi miền Tây vốn quen tư duy "nuôi cho cố, chăm cho to" để nặng ký khi cân. Nhưng họ quên mất rằng, với nhịp sống đô thị hiện tại, thói quen tiêu thụ đã khác. Mua một con lươn sống to bằng cổ tay về tự làm thịt, lọc xương là... mỏi mệt. Mấy bà nội trợ, nhìn là ngán. Thị trường hiện đại cần những giải pháp tiện lợi, những khay lươn phi-lê làm sạch. Trên kệ siêu thị là những gói súp ăn liền đóng gói. Đó là những thứ mà những hộ nuôi nhỏ lẻ không thể tự làm được nếu thiếu vắng các nhà máy sơ chế, chế biến sâu.
Kết cục là con lươn càng lớn, càng ngốn cám thì càng bị chê. Mỗi ngày trôi qua là một ngày tiền thức ăn đổ xuống nước. Vốn liếng bị bào mòn. Chưa hết, năng lực đàm phán của người nông dân trước giới đầu nậu, đã bị tước bỏ hoàn toàn.
Rủi ro, chuyện xưa còn đó
Câu chuyện của con lươn Cà Mau, không phải bất thần dưới đất vọt lên, chưa từng có. Nó là kịch bản tái diễn của những cuộc khủng hoảng thủy sản từng quét qua vùng đất này.
Giai đoạn năm 2010 - 2012, cơn sốt cá trê lai bùng nổ khắp các tỉnh miền Tây nhờ đặc tính siêu tăng trưởng và ăn tạp. Nhà nhà đào ao thả cá trê. Đ rồi chỉ hai năm sau, thị trường nội địa nghẹn ứ. Thương lái từ chối thu mua với lý do kinh điển: Cá quá lứa thì lắm mỡ, thịt bở.
Ngay sau đó, đến giai đoạn 2013 - 2015, làn sóng nuôi ếch Thái Lan trong vèo lưới lại lặp lại y hệt chiếc khuôn này. Được tung hô là mô hình xóa đói giảm nghèo lý tưởng, nông dân hồ hởi đón nhận. Nhưng chỉ sau vài vụ trúng đậm, hàng ngàn hộ nuôi lại trắng tay khi con ếch Thái bị dội chợ. Vẫn... phim cũ chiếu lại: quá lứa thì thịt dai, không ai tiêu thụ.
Thậm chí, ngay cả con cá tra - mặt hàng xuất khẩu tỷ đô - cũng từng nếm trải bài học xương máu về căn bệnh tăng trưởng nóng. Đỉnh điểm là giai đoạn bùng nổ năm 2007 - 2008 và chu kỳ khủng hoảng thừa kéo dài những năm 2011 - 2014. Khi ấy, cơn sốt giá khiến nông dân ạt xẻ bờ lúa, đào ao nuôi cá tra bất chấp cảnh báo. Để rồi khi dòng vốn tín dụng bị siết chặt, các nhà máy chế biến quá tải, thì... trắng mắt nông dân. Hàng trăm ngàn tấn cá tra quá lứa nằm chực chờ dưới ao. Nó đẩy hàng loạt "đại gia chân đất" vào cảnh vỡ nợ, phá sản.
Cá tra năm 2011. Ếch Thái năm 2014, hay con lươn Cà Mau của năm 2026, gọi tên một tư duy làm ăn cũ kỹ, sai lầm. Đó là thâm canh mật độ cao và phụ thuộc tuyệt đối vào thức ăn công nghiệp. Khi bị tắc đầu ra, áp lực chi phí từ những bao cám trở thành thứ đòn bẩy ngược, biến ao cá, bể lươn thành những cỗ máy ngốn tiền. Người nuôi rơi vào cái vòng xoáy tự sát về mặt tài chính: càng giữ càng lỗ, càng bán càng đau.
Bẻ gãy vòng luẩn quẩn, cách nào?
Trước mắt, chính quyền địa phương đang nỗ lực xoay xở bằng cách kích hoạt các kênh chợ mạng, livestream. Rồi kêu gọi nội bộ các cơ quan, doanh nghiệp tiêu thụ giúp bà con. Nhưng tình thương hay những chiến dịch tình nguyện chỉ là liều thuốc giảm đau tạm thời. Nó chỉ để giải quyết phần ngọn của một nghìn tấn lươn quá lứa.
Để con lươn miền Tây có được một chỗ đứng đàng hoàng, tư duy quản lý và sản xuất phải bước qua ranh giới của việc "nuôi con gì". Cần phải chạm tới câu hỏi thị trường cần gì?. Quy hoạch lại vùng trồng. Xây dựng chuỗi liên kết bốn nhà hay chuẩn hóa quy trình theo tiêu chuẩn VietGAP. Hướng tới các thị trường xuất khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản... Tất cả là hướng đi bắt buộc.
Nhưng quan trọng hơn cả, mối liên kết ấy phải được ràng buộc bằng những hợp đồng kinh tế sòng phẳng, có chế tài pháp lý rõ ràng. Đồng bằng cần những doanh nghiệp công nghệ thực phẩm dám nhảy vào khâu chế biến tinh. Từ đó, biến con lươn thô thành những sản phẩm tiện ích cho kệ siêu thị. Bài toán minh bạch thông tin và tiện lợi hóa nông sản, phải được giải. Nếu không, những giọt nước mắt giải cứu sẽ còn rơi, bất luận là con gì.


