0,6 % và chiếc “ấn” tự phong VietGap
Ngày 23/9, tại Tọa đàm "Nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm nông sản trong nước" tổ chức tại Hà Nội, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật được đưa ra con số: tổng diện tích cây trồng đạt chứng nhận VietGAP tại Việt Nam mới đạt khoảng 150.000 ha trên 6 nhóm cây trồng, trong đó diện tích rau được chứng nhận chỉ hơn 8.000 ha, tức chưa đến 1% (khoảng 0,5 - 0,6%) trên tổng số 1,15 triệu ha đất trồng rau.
Con số này rõ ràng phơi bày một khoảng cách khổng lồ giữa sản xuất thực tế và mục tiêu an toàn, mà rõ nhất là đến 99% logo “tôi là VietGap” tự phong (nếu có), bởi nhìn đâu cũng thấy dán nhãn này. Tỷ lệ đó không chỉ phản ánh sự yếu kém trong sản xuất mà còn cho thấy một lỗ hổng nghiêm trọng trong việc đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng nội địa, những người tiêu thụ phần lớn số rau được sản xuất.

Trước dày đặc những thông tin kiểu "phần lớn diện tích được chứng nhận hiện nay là để phục vụ xuất khẩu" đã lột tả thực trạng hai mặt của thị trường nông sản Việt Nam. Các doanh nghiệp và hộ nông dân chỉ tập trung vào việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường nước ngoài để có được giá trị kinh tế cao hơn, trong khi thị trường nội địa khổng lồ và dễ tính lại bị xem nhẹ, thiếu đi các tiêu chuẩn chất lượng.
Với 10 triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn trở thành một thách thức lớn. Các hộ sản xuất đơn lẻ thường thiếu vốn, thiếu kiến thức và không đủ nguồn lực để đầu tư vào quy trình sản xuất an toàn.
Mà lỗi đâu chỉ người trồng. Nhà nước với 3 bộ NN-MT, Y tế, Công Thương đâu có vô can trong trách nhiệm quản lý, giám sát và lưu hành bán buôn tiêu thụ.
Ra chợ, vào cửa hàng rau củ, chỉ có cách mua bằng…niềm tin, chẳng biết đâu thật - giả, người - ma.
Phát biểu tại buổi tọa đàm nói trên, PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh đã nhấn mạnh rằng "phần lớn họ không cố tình sai, mà là không được hướng dẫn hoặc thiếu kiến thức". Đây là mấu chốt của vấn đề. Giải pháp không phải chỉ là thanh tra, kiểm soát, mà là giáo dục, tuyên truyền, và tập huấn cho người nông dân thông qua các hợp tác xã và hiệp hội.
Còn ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, đề xuất giải pháp "xây dựng các điểm bán tập trung, kiểm soát được nguồn gốc, hạn chế bán hàng rải rác, trôi nổi." Điều này sẽ giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm soát chất lượng sản phẩm, từ đó bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất an toàn’.
Bên cạnh đó, các chuyên gia còn đưa ra ý kiến là khuyến khích chuỗi liên kết giá trị. Một trong những giải pháp thực hiện là nâng cao vai trò của các hợp tác xã và các doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ. Khi có các doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, nông dân sẽ có động lực để tuân thủ các quy trình sản xuất an toàn, vì họ có thị trường đầu ra ổn định với mức giá tốt hơn.

Lợi nhuận cũng góp phần khiến người sản xuất, bán buôn…hô biến rau không an toàn, cho nó chiếc áo sạch. Việc truy suất, quản lý, kiểm tra…, thì từ con số trên cho thấy độ an toàn, tính xác thực không thuyết phục. Vẫn ý kiến từ người sản xuất là chi phí và thủ tục cho việc đạt chứng nhận VietGAP đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về quy trình canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, và nguồn nước, khá rắc rối. Quá trình này tốn kém chi phí, thời gian và thủ tục hành chính phức tạp. Vì vậy, nhiều hộ nông dân, đặc biệt là các hộ nhỏ lẻ, không mặn mà với việc đăng ký.
Bản thân thị trường nội địa Việt Nam chưa có hệ thống quản lý đủ chặt chẽ, tạo điều kiện cho các sản phẩm không rõ nguồn gốc tồn tại và cạnh tranh về giá. Với tâm lý "ăn rau sạch đắt tiền" nhưng lại chưa có đủ thông tin để kiểm chứng, người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận các sản phẩm dán nhãn "tự phong".
Xem thêm: Tự nghiên cứu trồng rau khí canh, kiếm trăm triệu đồng mỗi năm
Quá dễ dàng để đưa ra lời khuyên cho người tiêu dùng, nhưng thực tế họ như kẻ lạc rừng mà không có la bàn, thiếu kiến thức để tìm đâu lối ra. Nhà nước quá biết để đạt người như xứ người trong việc thiết lập con đường từ ruộng đồng lên bàn ăn là nông sản sạch, sẽ phải đi ra sao, nhưng làm thì không thấy. Cho nên khi con số 0,6% kia vang lên, có lẽ không khiến người ta giật mình, bởi quá quen rồi, đành “sống chung với lũ”.
Năm 2024, một con số khảo sát: khoảng 20% người Việt dùng nông sản sạch. Vậy họ là ai? Người trồng, chắc là có, bởi họ biết đâu là sạch đâu bẩn. Còn lại là người có điều kiện kinh tế, nhưng họ mua ở đâu, hàng hóa trong hay ngoài nước? Cho nên 20% dân số dùng rau an toàn, là con số đáng nghi.
Kỷ nguyên mới cho rau quả sạch, bao giờ?
Hỏi vậy thì xa quá. Người ta chờ coi chuyện này xảy ra không: 99% kia, là ai? “Gọi tên” được không? Và cách nào để sau một thời gian, nó sẽ hạ độ cao để bớt người nhập viện vì “bệnh từ miệng mà vào”?
Xem thêm: Trung Quốc ‘ôm’ hơn nửa thị phần hoa quả xuất khẩu của Việt Nam
